Chương 36: Liên hoàn kế và kỳ khảo bổ túc (2)
*
“Muội thật sự muốn đi thi kinh văn sao?!” Dư Xảo Nương trừng tròn đôi mắt, chiếc đũa ngà trong tay cũng rơi mất một chiếc. “Đại ca ta nói thi kinh văn đâu có dễ, huynh ấy đèn sách mười mấy năm, ơn thầy chỉ mới cho phép sang năm mới được ra trường dự thí đấy.”
Vương Hòa Vi dịu giọng nói: “Dù sao thì Hội Hội cũng chẳng phải đi thi khoa cử như họ, đại ca muội phải đọc cả chục bộ kinh điển, còn Hội Hội chỉ cần bốn bộ là đủ rồi.”
“Đủ rồi ư?” Dư Xảo Nương bị hai chữ ấy làm cho kinh ngạc. “Hội Hội đâu có giống tỷ, từ nhỏ rảnh rỗi là cắm đầu đọc sách. Muội ấy mới hai tháng nay mới chịu học hành tử tế, mặt chữ cũng mới nhận hết được thôi đó!”
Lư Hội thở dài, cô cũng biết mình căn cơ quá yếu.
Lâm Mạt Tử trầm ngâm một lát, ngón tay khẽ xoay chén rượu trong tay: “Ta thấy quyết định của Hội Hội bề ngoài tưởng chừng nông nổi, thực ra lại có thể đi được đấy.”
Ba người đồng loạt quay sang nhìn nàng.
Lâm Mạt Tử thong thả nói: “Thứ nhất, ta nghĩ Đoan Mộc Xá Nhân thật ra chẳng định thật lòng đối đầu với Thiếu tướng, chỉ là muốn dằn mặt một phen, để Thiếu tướng hiểu rằng bà không giống Quán chủ, không để ai sắp đặt, và càng chẳng ai có thể lay chuyển vị trí của bà bên cạnh bệ hạ.”
Lư Hội sững sờ: “Ta lay chuyển bà ấy ư? Ta nằm mơ cũng chẳng dám mơ đến chuyện đó! Vả lại cậu của ta cũng chẳng có ý định ấy, chỉ muốn ta ở bên cạnh bệ hạ được thơm lây một chút, sau này xuất cung còn dễ mà gả vào nhà tốt hơn thôi.”
Lâm Mạt Tử lắc đầu: “Chốn cung đình chẳng giống học quán đâu. Ở học quán, chỉ cần cô hơi khác người đã bị xì xào bàn tán, huống hồ là ở trung tâm quyền lực, nơi sáng dao tối kiếm chẳng thiếu gì.”
Dư Xảo Nương gật gù tán đồng: “Ta thấy Mạt Tử nói đúng. Nhị ca ta ngoài mặt thì nhân duyên tốt, thực ra nhìn ai trong đồng môn cũng chẳng thuận mắt, lúc nào cũng nghĩ họ muốn giành suất dự thi của mình.”
Lâm Mạt Tử tiếp lời: “Chỉ cần Đoan Mộc Xá Nhân không thật lòng muốn đối địch với Thiếu tướng, vậy thì khi khảo hạch Hội Hội, bà ấy sẽ chẳng làm khó quá mức. Nếu có thể đạt được sáu, bảy phần điểm, như vậy là đủ rồi.”
Nghe đến đây, Lư Hội lập tức tinh thần phấn chấn: “Mạt Tử nói hay lắm, ta có động lực rồi!”
Lâm Mạt Tử lại nói: “Thứ hai, nay Thiếu tướng và Đoan Mộc Tuệ đang thế giằng co, Hội Hội chịu cúi đầu một chút, ngoan ngoãn đọc sách ôn tập, vậy đôi bên đều có bậc mà xuống.”
Dư Xảo Nương nghe ra thâm ý, hỏi: “Ý muội là… chỉ cần Hội Hội tỏ ra có thành ý một chút thôi, đến khi khảo hạch, Đoan Mộc Xá Nhân sẽ nương tay phải không?”
Lâm Mạt Tử phản đối: “Như vậy lại là làm cho có lệ. Lần này Hội Hội phải thật lòng khổ luyện mới được. Cô càng chăm chỉ, càng dốc sức thì Đoan Mộc Xá Nhân càng được thể diện, ngoài kia người ta chỉ nói rằng ‘Kẻ vốn ham lười cầu may, nhờ lời răn nghiêm khắc của Đoan Mộc Xá Nhân mà thức tỉnh, quyết chí học hành, nay đã khác xưa, trở thành bậc nhân tài.’”
Vương Hòa Vi nghe thế cũng an lòng: “Sau này Hội Hội còn phải ở dưới tay Đoan Mộc Xá Nhân, như vậy là tốt nhất.”
Lư Hội lẩm bẩm: “Ôi chao, nghe mọi người nói mà thấy trong chuyện này lắm ngóc ngách thật đấy.”
Dư Xảo Nương ngạc nhiên: “Chẳng lẽ muội không nghĩ đến những điều đó rồi mới quyết tâm đi thi lại à?”
“Hoàn toàn chẳng nghĩ gì hết.” Lư Hội cười, nụ cười sáng rỡ như trời cao không gợn mây. “Chỉ là thấy không thể cứ giả dối mãi, để người ta khinh thường. Chỉ cần muội dốc toàn lực, cho dù sau cùng thất bại, cũng chẳng có gì phải hối tiếc.”
Lâm Mạt Tử vỗ tay cười: “Hội Hội tấm lòng rộng rãi, người ngốc có phúc của người ngốc.”
Lư Hội liền ném một miếng bánh hấp sang, cười mắng: “Ngốc cái gì mà ngốc, nói nửa câu đầu thôi là được rồi!”
Dư Xảo Nương ôm bụng cười ngả ra bàn.
Vương Hòa Vi lấy từ sau lưng ra một chiếc giỏ tre đan: “Đây là sổ ghi chép ta viết từ nhỏ, mong có thể giúp được muội đôi chút.” Nàng lại rút ra mấy tờ giấy thư buộc bằng dây đỏ: “Còn về việc chọn bốn bộ kinh nào, đây là bản kiến nghị ta viết đêm qua, có thể tham khảo.”
Lư Hội hai tay đón lấy chiếc giỏ, xúc động đến rưng rưng nước mắt: “Vẫn là Hòa Vi chu đáo, cẩn thận và vững vàng nhất. Không như ông cậu của muội, chẳng những khinh thường quyết định của muội mà còn cứ xúi muội tìm đường tắt.”
Vương Hòa Vi bật cười: “Muội cãi nhau với Thiếu tướng rồi à?”
Lư Hội giận dữ nói: “Thôi, đừng nhắc đến người nữa! Bụng người đầy kinh nghĩa, đọc sách nhiều hơn cả số trâu ngựa muội từng thấy, thế mà toàn bày cho muội những kế dở tệ, khiến muội bẽ mặt. Muội chẳng muốn nói chuyện với người nữa!”
Lâm Mạt Tử lắc ngón tay: “Cô nhóc không có lương tâm.”
Lư Hội cãi: “Sao lại bảo ta không có lương tâm?”
Lâm Mạt Tử chỉ quanh một vòng —
Từ xà nhà, sàn gỗ, bàn ghế, kệ bày đều làm bằng gỗ hoàng hoa lê thượng hạng, vách ngăn là từng lớp bình phong ngọc thạch xếp chồng như núi, tòa lầu xây theo hình giếng trời, bốn mặt thông thoáng, tầng lầu trên cao nhìn xuống thấy rõ người ở tầng dưới.
Giữa mùa đông giá rét, trong phòng vẫn điểm xuyết đầy chậu hoa tươi quý giá.
Nàng mỉm cười nheo mắt nhìn Lư Hội: “Thái Nhất Lâu nổi danh khắp thiên hạ, là nơi ra vào của bậc hào quý Đông Đô, nhà thường dân có nhiều bạc đến mấy cũng khó mà vào được. Tiểu Hội Hội, ta hỏi cô, gian nhã thất tầng ba nhìn ra cửa sổ này, là tự cô đặt đấy à?”
Lư Hội vốn thật thà, lập tức đỏ mặt.
Đêm qua cô viết thư mời ba người bạn thân cùng ra ngoài tụ họp, ban đầu vốn định để quản sự cửa hàng nhà mình đặt chỗ ở một quán chuyên món cừu nướng nổi tiếng. Ai ngờ sáng nay vừa ra cửa đã bị Lão Tống chặn lại ở trong sân, bảo rằng quán ấy phức tạp lắm, chẳng thích hợp cho các tiểu nương tử tụ họp, rồi tự ý đổi sang đặt tiệc ở Thái Nhất Lâu, thậm chí còn sai người đi báo tin cho ba vị tiểu nương tử kia.
Nhìn dáng Lão Tống ngáp dài, rõ ràng là vừa bị lôi dậy để đưa lời, Lư Hội còn không biết ai đứng sau chuyện này sao được.
Dư Xảo Nương vỗ vai cô, dịu giọng khuyên: “Bậc trưởng bối đều vậy cả, lúc nào cũng tự cho là đúng. Muội đừng chấp họ làm gì, người nhà nào có chuyện giận dỗi qua đêm đâu. Từ từ mềm mỏng rồi cũng khiến họ đổi ý thôi. Như chuyện hôn sự giữa ta và Mặc Lang đó, giờ cha mẹ ta cũng đã xuôi xuôi rồi đấy.”
Lâm Mạt Tử hừ nhẹ một tiếng, “Tỷ thật là, chuyện gì nói mãi rồi cũng vòng về tình lang của tỷ ——” rồi nàng quay sang, “Lời của Xảo Nương rất có lý, nhưng giờ trước hết cô nên lo đối phó với Đoan Mộc Xá Nhân đi đã.”
Vương Hòa Vi nâng chén rượu, mỉm cười: “Chúc Hội Hội một lần đỗ đạt, cờ khai đại thắng!”
Ba thiếu nữ cùng đồng thanh chúc tụng, Lư Hội bỗng thấy máu nóng dâng trào, khí thế hừng hực, trong lòng như vị tướng trong truyền thuyết sắp bước lên chiến trường, trước mặt là quân địch đông nghịt, sau lưng là dân làng và người thân ——
Cô ngửa đầu, uống cạn chén rượu quả, rồi lớn tiếng nói: “Phá tan gian nguy hiểm trở, chính là hôm nay!”
–
Khi trở về Bùi phủ, Lư Hội tắm gội thay áo, dặn dò xong các tỳ nữ rồi đóng cửa lại.
Người hiểu rõ nhất về tiến độ và năng lực học của cô, không ai khác ngoài Vương Hòa Vi. Chiều hôm qua, từ hành cung trở về, việc đầu tiên cô làm chính là viết thư cho Vương Hòa Vi, nói rõ quyết định của mình, lại hỏi rằng: “Nếu muội dốc hết sức, liệu trong nửa tháng có thể đọc thuộc bốn bộ kinh hay không?”
Đến chạng vạng, Vương Hòa Vi mới hồi âm. Chỉ có mấy chữ: “Có năm phần khả năng.”
Năm phần đã không ít. Dù chỉ có một, hai phần hy vọng, Lư Hội vẫn quyết chí đốt thuyền mà chiến một phen.
Cô đổ giỏ trúc Vương Hòa Vi tặng ra bàn, bắt đầu sắp xếp lại tư tưởng.
Trước tiên là chọn kinh.
Kinh tạp thì khỏi nói, nhất định phải chọn Luận ngữ — cô đã đọc xong nửa bộ, nửa còn lại cũng từng nghe phu tử trong học quán giảng qua; Kinh hạ, vốn cô định chọn Chu Dịch vì chữ ít nhất, nhưng vừa lật xem đã thấy nội dung huyền ảo khó hiểu, riêng mười mấy loại quẻ tượng đã khiến cô hoa mắt chóng mặt, bèn đổi sang chọn Thượng Thư; Kinh trung chọn Mao thi — Mao thi vốn bắt nguồn từ Kinh thi thời tiên cổ, lại được đại gia Khổng Trùng Viễn, một trong Mười Tám Học Sĩ Kiến Sơ biên soạn thành Mao Thi Chính Nghĩa, xác suất bị rút trúng để khảo khá cao; Còn về kinh đại, Lư Hội do dự thật lâu. Nếu luận chữ, thì Lễ ký ít hơn nhiều, nhưng từ nhỏ cô đã chán ghét lễ nghi phiền phức, đến cả bìa sách cũng chẳng buồn mở, trong lòng toàn là cảm giác phản kháng. Mà Tả Thị Xuân Thu lại quá dài, chữ nhiều gấp đôi Lễ ký, thế thì phải làm sao đây?
Nghĩ không ra thì thôi, cô gạt cả hai bộ qua một bên, tạm tập trung vào ba bộ còn lại.
Vương Hòa Vi từng nói, học hành không thể thành trong một sớm một chiều, phải tích lũy ngày qua ngày, nên ăn ngủ phải điều độ. Nhưng giờ Lư Hội rõ ràng chẳng làm nổi, lại nhớ lời Xảo Nương kể — năm nọ bốn đại thư viện ở Hà Bắc tỉ thí, trước kỳ thi, đại huynh của nàng ta suốt một tháng mỗi ngày chỉ ngủ hai canh giờ, cuối cùng vẫn đoạt thứ hạng cao.
Đại huynh nhà họ Dư vốn là thư sinh yếu ớt, Lư Hội so ra cường tráng hơn nhiều, huynh ấy còn có thể cắn răng chịu đựng suốt một tháng, chẳng lẽ cô chịu không nổi nửa tháng?
Ngọn nến cháy rồi tắt, giấy cửa sổ phủ lớp dầu trong phản chiếu ánh trăng sương mờ mờ, sáng tối chập chờn. Cô gái miệt mài đọc sách chẳng hề hay biết, khi mệt quá thì khoác chăn ngủ tạm, đầu choáng váng lại vốc nước lạnh tạt mặt — có thể coi là kiểu “treo đầu chùm tóc, chích đùi chịu khổ” phiên bản đau xác thịt.
Lâm Mạt Tử nói chẳng sai, dù người cậu giả ấy có trăm điều không phải, đối với cô lại chưa từng keo kiệt bất cứ thứ gì. Từ thư tịch quý của Mộc Hương Trai cho phép cô tùy ý mượn, đến than Vân Sương thượng hạng trong phòng đọc chưa từng ngừng đốt.
Khi từng câu từng chữ trong sách xoay vòng trong đầu hỗn loạn như bầy chim bay loạn, Lư Hội chợt tự hỏi — chàng đối tốt như vậy, là với tất cả những kẻ có giá trị lợi dụng, hay chỉ riêng mình cô thôi?
Thôi, thật ra cô chẳng còn giận chàng nữa.
–
Lão Tống khom người nằm rạp trên tảng giả sơn, rướn cổ nhìn vào trong.
Bùi Thứ Chi đứng bên, sắc mặt trầm hẳn.
“Đã ba ngày rồi, sao đèn vẫn sáng thế?” Lão Tống chau mày, “Không lẽ cô ấy vẫn chưa ngủ?”
Bùi Thứ Chi lạnh giọng: “Tiên sinh không yên lòng thì cứ sang đó mà xem.”
Lão Tống xoa cổ, thở dài, “Hôm qua lão phu cũng định qua khuyên Hội nương, mà bị đám tỳ nữ chặn lại. Ôi, bọn tỳ nữ ấy đều nghe lời cô ấy cả.”
Tính tình Lư Hội hiền hòa trung hậu, đối người thành thật, lại rộng rãi hào phóng. Ở chung vài tháng, hiếm ai không quý mến cô; thêm vào đó, thái độ của Bùi Thứ Chi đối với cô — trân trọng xen lẫn thân mật, mà thân mật lại pha chút khó lường, khiến đám tỳ nữ càng thêm cung kính hầu hạ.
“Hôm qua cơm nước cô ấy chẳng ăn mấy, đói thì chỉ gặm vài miếng bánh.” Lão Tống rầu rĩ, “Cứ thế này mà kiệt sức thì làm sao đây.”
Ông liếc xuống phía chân núi giả, “Phải để Thiếu tướng đi khuyên mới được, tỳ nữ chắc chẳng dám ngăn.”
Bùi Thứ Chi mặt lạnh như sương: “Cô ấy căn bản chẳng buồn nói với ta, chẳng lẽ ta phải hạ mình trước?”
Lão Tống vội tuột xuống núi, vừa nói vừa thở: “Hội nương còn nhỏ, Thiếu tướng cần gì so đo với cô ấy.”
Bùi Thứ Chi hừ khẽ, “Tự cao tự đại, chẳng biết lượng sức!” rồi phất tay áo bỏ đi.
Lão Tống nhìn bóng lưng chàng, chỉ biết lắc đầu liên hồi.
— Hội nương tuy ngây thơ bốc đồng, nhưng quyết định lần này chưa hẳn là xấu, Thiếu tướng hoàn toàn có thể thuận thế mà làm, thật chẳng đáng để nổi giận. Theo ý lão, vị chủ nhân nhà mình chỗ nào cũng tốt, chỉ có điều cứ đụng đến Hội nương là bao nhiêu mưu lược đều hóa thành mây khói.
–
Với trái tim thủy tinh dễ vỡ như Bùi Thứ Chi, điều Lâm Mạt Tử nghĩ được, chàng dĩ nhiên cũng hiểu, những lời khuyên Lão Tống còn giữ trong bụng, chàng cũng đoán ra cả. Thế mà lòng chàng vẫn chất đầy buồn bực, chẳng thể giãi bày, cũng chẳng thể hóa giải.
Chàng than thở với Nữ hoàng: “Bệ hạ đã mở miệng, mà Đoan Mộc Xá Nhân lại dám ngang nhiên ngăn cản, chẳng phải coi thường bệ hạ rồi sao?”
Nữ hoàng có vẻ rất vui, cố nhịn cười: “Tuệ Nhi cũng chỉ làm đúng theo quy chương. Nó ở bên trẫm bao năm, trung tâm tận lực, chút thể diện này trẫm tất nhiên phải giữ cho nó.”
Đến khi gặp Đoan Mộc Tuệ, chàng lại châm chọc một trận, “Hội Hội nhà ta ngày đêm khổ học thế kia, Đoan Mộc Xá Nhân hài lòng rồi chứ?”
Đoan Mộc Tuệ nói: “…Rất hài lòng.” — Quả thật là rất hài lòng.
Về đến phủ, chàng không khỏi thấy trống trải: “Đoan Mộc Tuệ chẳng hề sợ ta sinh hiềm khích với bà ta, xem ra chút quyền thế trong tay ta, cũng chỉ là hư danh mà thôi.”
Lão Tống cũng buông xuôi, mở miệng liền nói: “Đoan Mộc Xá nhân cớ gì phải sợ, chỉ cần sau này bà ta nắm được Hội nương trong tay, há lại e rằng Thiếu tướng không cùng bà ta hóa đao thương thành gấm vóc.”
Như dầu sôi kìm nén đến đêm thứ năm, Bùi Thứ Chi trằn trọc nửa đêm, rốt cuộc vẫn khoác áo dậy, cầm đèn đi ra ngoài.
Trong viện phủ mùa đông tuyết đọng, bóng người cao gầy cô tịch chậm rãi bước đi giữa không gian lạnh lẽo tĩnh mịch, khiến tên thị vệ tuần đêm suýt nữa rút đao ra.
Tỳ nữ canh ngoài sảnh dĩ nhiên không dám ngăn lại. Bùi Thứ Chi đẩy cửa bước vào, rồi tiện tay đóng lại sau lưng. Trong phòng ấm áp như xuân, ngọn đèn nhỏ như hạt đậu, giấy bản và bản thảo vương vãi khắp nơi, song trước án thư lại chẳng thấy bóng người.
Bùi Thứ Chi đưa mắt nhìn quanh, trên ghế dựa không có ai, giường trong buồng cũng trống không. Giữa lúc nghi hoặc, chàng quay lại bên án thư, liếc qua rồi bất giác bật cười. Thì ra Lư Hội ôm chăn gấm cuộn tròn ngủ dưới gầm bàn, chỉ lộ ra một mái tóc đen nhánh cùng nửa vầng trán tròn mịn, lông tơ mượt như nhung.
Bùi Thứ Chi vừa buồn cười vừa thấy thương, chợt nhận ra cơn giận mấy hôm trước của mình thật vô cớ, mà cũng chẳng có chút phong độ nào. Chàng khom người cúi xuống, nhẹ nhàng bế cô ra khỏi gầm bàn, đặt lên giường trong buồng, cẩn thận đắp chăn cho cô. Đang định đứng dậy thì thấy cô gái khẽ hé hàng mi dài, như thể đang mơ, mơ màng lẩm bẩm một câu—
“…Bùi Thứ Chi.”
Nói xong, cô trở mình, ôm chăn tiếp tục ngủ.
–
Lư Hội dù đã ngủ, vẫn chẳng yên giấc, ngay cả trong mơ cũng lo phải học thuộc sách.
Trong phòng ánh sáng dần sáng lên, mí mắt cô vẫn nặng trĩu, nhưng đôi tay đôi chân ngoan cường lại cố vùng dậy.
Cô gục bên mép giường ngẩn ngơ một lát, rồi mới nhận ra người đang ngồi bên án gần cửa sổ — chẳng phải Bùi Thứ Chi thì là ai?
Ánh sáng sớm nhạt nhòa chiếu vào, vị công tử cao quý, dung nhan thanh khiết như ngọc lưu ly, đang chăm chú viết chữ, bên án có lò hương đồng tím, khói hương vấn vít bay lên — cảnh tượng ấy khiến Lư Hội trong thoáng chốc ngờ rằng mình vẫn còn trong mộng.
Bùi Thứ Chi thấy cô tỉnh, khẽ mỉm cười. Ngoài cửa sổ pha lê, tuyết nhỏ lất phất bay, ánh bạc phản chiếu khiến chàng tựa như tiên nhân bị đày hạ phàm.
Chàng dịu giọng hỏi: “Cô đang do dự không biết nên chọn bộ đại kinh nào sao?”
Lư Hội ngẩn người gật đầu.
Bùi Thứ Chi nói: “Lễ ký chữ ít hơn Tả truyện, cô do dự đến tận bây giờ, là vì chán ngán những lễ nghi phiền phức, rườm rà trong Lễ ký có phải không?”
Lư Hội bị nói trúng tim đen, vội vàng gật đầu lia lịa.
Bùi Thứ Chi khẽ cười: “Có phải cô vẫn chưa từng đọc Lễ ký không?”
Lư Hội linh cảm lại sắp bị chàng châm chọc, bèn ủ rũ cúi đầu.
Bùi Thứ Chi cầm quyển sách đi đến, ngồi xuống bên mép giường, một tay đặt nhẹ lên vai thiếu nữ, giọng dịu dàng nói: “Thực ra nhiều người hiểu sai về Lễ ký. Quỳ ba lần, khấu đầu chín cái là lễ; trọng nghĩa giữ lời cũng là lễ. Trên dưới có thứ bậc là lễ, mà lấy nhân nghĩa giáo hóa người đời, ấy cũng là lễ.”
Lư Hội kinh ngạc ngẩng đầu lên.
Bùi Thứ Chi kiên nhẫn nói: “Ta hỏi cô nhé. Nếu cha cô giao quản sự đi thu nợ, mà quản sự kia vừa thấy tiền bạc quá nhiều liền chẳng cần vợ con, cứ thế ôm của trốn đi — việc ấy có được không?”
“Đương nhiên là không được!” Lư Hội ôm chăn ngồi dậy, nghiêm túc nói: “Làm thương nhân cũng phải giữ chữ tín chứ.”
Bùi Thứ Chi lại nói: “Có một thư sinh ra ngoài cầu học, đọc sách đầy bụng, nhưng khi trở về lại chẳng muốn nói cho bạn bè biết, chỉ lo mình phát đạt — như thế có được không?”
Lư Hội do dự: “Không hay lắm… đã là bằng hữu thì nên… Những điều ấy cũng nằm trong Lễ ký sao?”
Bùi Thứ Chi xoa nhẹ chiếc cổ trắng nõn mềm mại của cô, mỉm cười: “Trong thiên Nho hành có viết: ‘Kẻ nho giả, nghe điều thiện thì đem bảo người, thấy điều thiện thì chỉ cho người.’”
Lư Hội không nhịn được gật đầu: “Lời ấy thật hay.”
Bùi Thứ Chi hỏi tiếp: “Cô từng nghe đến Nữ giới chưa?”
Lư Hội khinh khỉnh nói: “Mẹ tôi bảo thứ đó chỉ đáng đem nhóm bếp thôi. Nghĩa vợ chồng vốn nên kính nhau, thương nhau — người tốt với tôi, tôi tốt với người; người bất nhân với tôi, tôi bất nghĩa lại. Nữ nhân sao có thể tự hạ mình như trong sách viết được chứ?”
Bùi Thứ Chi bật cười: “Người viết Nữ giới là một nữ nhân vô cùng xuất chúng thời cổ, thiên hạ gọi là ‘Ban đại gia’. Nữ giới tuy do bà viết, nhưng cả đời bà mở lớp giảng học, viết sách lập truyện, cùng danh sĩ đương thời uống rượu luận đạo, bàn chuyện học vấn, chưa từng có một ngày nào sống theo điều mình viết trong Nữ giới cả.”
Lư Hội cau mũi: “Vậy sao bà ấy còn phải viết quyển ấy?”
“Bởi khi đó là Hoàng đế ra lệnh cho bà viết đấy.” Bùi Thứ Chi khẽ chạm mũi cô: “Như cô chẳng hạn, vốn không thích múa kiếm, nhưng nếu bệ hạ hạ chỉ bảo cô phải múa, cô có nghe không?”
Lư Hội cười gượng: “Thì… phải nghe thôi ạ.”
Bùi Thứ Chi nói: “Cô thấy Nữ giới chỉ đáng đem nhóm bếp, nhưng khi ấy có một phi tần nhờ quyển sách này mà thay thế được hoàng hậu, đoạt lấy thánh sủng và tín nhiệm, trở thành người thắng cuối cùng.”
Lư Hội kinh ngạc: “Vì sao lại thế?”
Bùi Thứ Chi đáp, giọng mang chút thâm ý: “Bởi Nữ giới thật ra không phải do Ban đại gia viết, mà là do Hoàng đế viết.”
Lư Hội ngẫm nghĩ hồi lâu, nếu Ban đại gia chưa từng sống theo điều mình viết, thì những lời trong sách hẳn chẳng phải tâm ý của bà, mà là hình mẫu nữ nhân đoan trang trong lòng bậc quân vương. Nhưng vị phi tần kia đã làm thế nào để đạt được sủng ái ấy, cô vẫn mơ hồ chưa hiểu.
Thấy thiếu nữ còn ngẩn ngơ, Bùi Thứ Chi liền đưa quyển sách trong tay cho cô: “Lễ ký quả thực có nhiều chỗ rườm rà, cổ hủ. Lúc ta còn nhỏ đọc cũng thấy phiền; nhưng trong đó cũng có nhiều lời trung chính khuyên người làm thiện, yêu thương kẻ khác, nuôi chí kiên định.”
“Sách là chết, người là sống. Một quyển sách, trăm cách đọc — học sách, hiểu sách, dùng sách, đều tùy vào sự lĩnh ngộ của mỗi người.”
Lư Hội hai tay đón lấy Lễ ký, trong lòng bỗng thấy khác hẳn. Cô nghiêng đầu hỏi: “Thiếu tướng, người đến đây là để dạy tôi đọc sách thật sao?”
Bùi Thứ Chi thản nhiên: “Phải.”
Lư Hội nằm sấp xuống giường, vùi đầu vào chăn, khẽ hỏi: “Thiếu tướng không giận tôi nữa chứ?”
Bùi Thứ Chi bật cười: “Rõ ràng là cô giận ta trước mà.”
Lư Hội vui mừng reo lên: “Tôi hết giận từ lâu rồi!”
Bùi Thứ Chi khẽ xoa trán cô, giọng dịu dàng: “Ta biết, chúng ta sớm đã hòa rồi.”
Thiếu nữ vui sướng, dang tay ôm lấy vòng eo rắn chắc của chàng.
Bùi Thứ Chi phì cười — cảm giác như có con thú nhỏ cuộn quanh lưng mình, cái đầu mềm mại cọ tới cọ lui, vừa ngoan vừa đáng yêu, khiến người ta chẳng nỡ rời. Chàng thầm nghĩ, dù cô chẳng học được văn võ song toàn, thì Ngụy Quốc phu nhân hẳn vẫn sẽ yêu mến cô thôi.
Trời đất rộng lớn, bốn bể xa xă. Làm gì có ai không thương mến cô bé Hội Hội của chàng được chứ.
–
Trở về Mộc Hương Trai, Bùi Thứ Chi vẫn tâm tình thư thái, khóe môi giữ nụ cười.
Lão Tống cứ nhìn chàng mãi không dứt.
Bùi Thứ Chi lấy làm lạ: “Tiên sinh nhìn gì thế?”
Lão Tống nói: “Lão phu đang ngắm gió xuân.”
Bùi Thứ Chi bật cười: “Giữa tiết đông giá buốt, làm gì có gió xuân?”
“Trên mặt Thiếu tướng ấy.”
–
Tác giả có lời muốn nói:
Phần nói về Nữ giới, một nửa là do nam chính “biên tập” lại, chỉ để khuyến khích nữ chính đọc sách thôi nhé.
