Tháng: Tháng 12 2025
KẺ THÙ – CHƯƠNG 11
Chương 11: Động phòng (2)
*
Diêu Diên thấy Ngụy Cảnh Chi trở mình đè xuống, nàng khẽ hít một hơi, hai chân bị tách ra, chàng quỳ gối chen giữa, nửa thân trên dựng thẳng, vén váy nàng lên, lộ ra chiếc quần lót trắng như ngó sen.
Nàng rụt rè, các ngón tay siết chặt đệm giường, mắt khép hờ lại lén nhìn động tác của chàng, bỗng thấy vùng eo bụng lành lạnh, là chàng đang kéo quần lót của nàng xuống.
Không đúng rồi! Trong thoại bản đâu có viết như thế này!
Nàng hoảng hốt, bật dậy ngồi thẳng, Ngụy Cảnh Chi không kịp phòng bị, môi chàng khẽ chạm lên chóp mũi nàng.
Diêu Diên đầy một bụng lý lẽ, cũng chẳng để tâm, chống tay lên hông nói: “Phu quân, chàng sai rồi.”
Ngụy Cảnh Chi hỏi ngược lại: “Sai chỗ nào?”
Ánh mắt chàng dừng trên gương mặt nàng. Trước đó lớp phấn son đậm đà nay đã được rửa sạch, chỉ một thoáng nhìn đã thấy yêu kiều đến cực điểm, trách gì Bùi Như Lâm lại mãi không quên được nàng.
Diêu Diên đáp: “Đâu có chuyện vừa vào đã cởi quần?”
“Vậy cô thấy nên thế nào?”
“Phu quân cởi áo trước, ta mới cởi áo. Phu quân hôn trán ta, hôn mắt, hôn mũi, hôn môi…” Nàng rốt cuộc vẫn là thiếu nữ, tự có phần kiêu thẹn, hai má đỏ hồng như lụa đào, khó nói tiếp, bèn dùng hành động thay lời, đầu ngón tay men theo cằm chàng: “Xuống nữa, xuống nữa, xuống nữa… cuối cùng mới tới đây.”
Ngụy Cảnh Chi nhìn ngón tay mảnh khảnh trắng muốt của nàng, móng tay tô khấu đan đỏ tươi, từng tấc một lướt qua cổ, xương quai xanh, nơi ngực nhô cao, bụng dưới, rồi dừng lại ở chỗ chiếc quần lót.
Khuê nữ chốn kinh thành đều giữ quy củ, đọc thuộc Nữ Giới, coi phu quân là trời, nào dám nói lang quân nửa chữ sai. Diêu lão cẩu cổ hủ vô vị, tuyệt đối không thể dạy con gái mình kiểu phong tình nơi thanh lâu như thế này.
Tiểu thư nhà họ Diêu, nếu không phải phóng đãng, thì cũng là tâm cơ quá sâu, hai điều ấy, chàng đều không dung được.
Ngụy Cảnh Chi không vội nữa, khóe môi chậm rãi cong lên. Chàng đưa tay, vén lọn tóc rối bên má nàng ra sau tai, ôn hòa nói: “Vậy thì phiền nương tử, giúp ta cởi áo.”
Tim Diêu Diên đập thình thịch như trống. Phu quân mặc áo lót cổ chéo bằng lụa cát trắng ngà, nàng tháo dải thắt nơi eo chàng, áo trong mở ra, tay nàng lần vào sau vai chàng, kéo áo lót trượt xuống.
Chàng để trần nửa thân trên, lồng ngực rộng rãi rắn chắc, eo bụng săn gọn cường tráng; từ dưới rốn, lông tóc bắt đầu mọc ra, càng lúc càng rậm, đen sẫm kéo dài vào trong quần.
Cổ họng Diêu Diên hơi khô, nàng liếm nhẹ môi. Khác hẳn những người đàn ông trong thoại bản, những kẻ ấy diện mạo mềm mại như nữ tử, thân hình tròn trịa sạch sẽ, phu quân của nàng lại hoàn toàn trái ngược: vóc người cao gầy rắn rỏi, lông tóc rậm rạp, trông như long tinh hổ mãnh, đầy ắp sức lực.
Ngụy Cảnh Chi nhướng mày hỏi: “Quần lót không cởi sao?”
“Để lát nữa cởi.” Nàng đáp mơ hồ.
Ngụy Cảnh Chi cười khẽ: “Y phục của cô, ta cởi, hay cô tự cởi?”
Diêu Diên nghiêm túc nghĩ một lát. Trong thoại bản, có chỗ là nam nhân giúp cởi, cũng có chỗ là nữ tử tự cởi. Nàng ngẩng lên, chạm phải bàn tay chàng, ngón tay thon dài, đốt xương rõ ràng, nghĩ đến việc bàn tay ấy đặt lên người mình, tim nàng bỗng run lên vô cớ, vội cắn môi nói: “Ta tự cởi.”
“Ừm.” Ngụy Cảnh Chi cười trêu.
Chàng nhìn nàng tháo cúc, cởi chiếc áo lót đỏ thẫm, lộ ra yếm bụng thêu đôi uyên ương giao cổ đỏ rực. Nàng vòng tay ra sau gáy, rút dây buộc, chiếc yếm liền lơi xuống.
Cổ họng Ngụy Cảnh Chi khẽ lăn. Khi tiểu thư nhà họ Diêu mặc y phục thì không thấy rõ, nay bày ra trước mắt chàng, làn da tựa tuyết mới bốc khỏi núi cao; hai bầu ngực đầy đặn mềm mại, đầu ngực hồng nhuận như hai đóa hoa, gặp gió đêm khẽ thổi liền run run vươn nở. Khi chàng cùng đồng liêu uống rượu ở Giáo Phường Ty, những kẻ phóng túng như Trương Tuân, Bùi Như Lâm thường làm việc trước mặt họ; dù không cố ý, cũng vô tình liếc thấy thân thể kỹ nữ. Nếu nói ngực họ giống như bồ câu sữa, thì ngực của tiểu thư nhà họ Diêu này lại như lẻ loi hai con thỏ trắng.
Ánh mắt chàng dời xuống, eo nhỏ cong cong như liễu uốn, bụng non trắng phấn mềm mại. Giữa hai người chỉ cách nửa cánh tay; chàng chỉ cần nhấc tay lên, hai con thỏ ấy liền có thể rơi trọn vào lòng bàn tay…
Ngụy Cảnh Chi bỗng thấy khát nóng, nơi bụng dưới con rồng cuộn mình tự có chủ ý, đã lộ dấu hiệu tỉnh dậy, rục rịch không yên; trên trán dường như đã lấm tấm mồ hôi.
Diêu Diên liếc thấy đôi mắt chàng đen thẳm, khóe mắt ửng đỏ kéo dài, nàng xấu hổ, ôm cánh tay che trước ngực, mềm giọng gọi: “Phu quân…”
Yêu nữ này dùng thân quyến rũ, lấy giọng mê hoặ, đúng là một màn mỹ nhân kế.
Ngụy Cảnh Chi vẫn cười: “Nương tử hiểu biết khá nhiều, ta thì kiến thức nông cạn; chi bằng cô đến hôn ta đi!”
Chàng khen ta hiểu biết nhiều! Diêu Diên đắc ý, đưa tay rút cây trâm trên đầu, mái tóc đen dài buông xõa xuống, nửa che nửa lộ trước ngực. Nàng ngoan ngoãn tiến lại gần, hai tay đặt lên vai chàng, trước hôn trán chàng, trán chàng đầy đặn, rồi hôn mí mắt hàng mi, mềm mại khẽ run; hôn sống mũi cao thẳng có góc cạnh. Ngụy Cảnh Chi đợi nàng hôn môi, nào ngờ nàng lại thè lưỡi liếm nhẹ má chàng: “Phu quân đổ mồ hôi rồi, mặn mặn.”
Sắc mặt Ngụy Cảnh Chi khẽ đổi, chàng đột ngột bóp lấy cằm nàng, nhấc nhẹ lên, ghé sát, môi kề môi, khàn giọng hỏi: “Yêu nữ, cô học đâu ra thuật mị hoặc lang quân này? Nếu dám nói dối, ta lập tức ném cô vào Giáo Phường Ty!”
Editor có lời muốn nói:
Chương sau có H, nàng nào muốn đọc thì inbox page mình nhé ~ Link page
KẺ THÙ – CHƯƠNG 10
Chương 10: Động phòng
*
Ngụy Cảnh Chi rời khỏi chính sảnh, không nhanh không chậm đi về phía hỷ phòng. Khi băng qua khu vườn, chàng bỗng chậm bước. Vừa qua Trung thu, trăng sáng như sương, bên tai vang lên tiếng chim ngủ mê lẩm bẩm, tiếng côn trùng rả rích trong đêm, tiếng cá quẫy đuôi dưới ao, tiếng hạt bồ đề rơi, tiếng gió lay ngọn cành, không biết là thiếu niên nhà ai đang thổi tiêu, âm thanh thanh vắng, quạnh hiu. Tâm tình chàng cũng chẳng khá hơn, liền đứng lại một lát, rồi mới đẩy cửa viện đi vào.
Khắp nơi đều là sắc đỏ, chỉ có song cửa hắt ra ánh đèn vàng nhạt.
Trên hành lang đứng mấy nha hoàn do đại phòng phái tới, tự xưng danh tính:
“Tôi là Thúy Anh.”
“Tôi là Ỷ Tử.”
“Tôi là Hạ Phương.”
“Đại phu nhân sai chúng ta tới giúp việc.”
Ngoài ra còn có một ma ma mặt mũi lạ lẫm và một nha đầu. Ma ma họ Lý, nha đầu tên Tiểu Xuân, cả hai cùng cúi người hành lễ. Lý ma ma vén rèm lên, cất giọng: “Nhị lão gia đến rồi.”
Ngụy Cảnh Chi không muốn vào ngay, chỉ hỏi qua loa: “Nàng đã dùng bữa chưa?”
Lý ma ma đáp: “Dùng một ít điểm tâm và trà rồi ạ.”
Ngụy Cảnh Chi nói: “Đem thêm chút đồ ăn cho nàng.”
Rồi chàng dặn mấy người Thúy Anh “Chuẩn bị tịnh phòng, ta muốn tắm rửa.”
Nói rồi, chàng liền xoay người rời đi, không ngoảnh đầu lại.
Diêu Diên nghe ma ma hô “nhị lão gia tới”, vội vàng ngồi thẳng dậy. Tiểu Xuân vào bẩm báo: “Gia đã sang tịnh phòng tắm rồi ạ.”
Chốc lát sau, Lý ma ma xách hộp thức ăn bước vào, bày cơm nước lên bàn.
Diêu Diên ngửi thấy mùi thơm, bụng réo lên từng hồi, liền vén khăn hỷ hỏi: “Đó là món gì vậy?”
Lý ma ma cười nói: “Nhị lão gia nghe nói cô nương chưa dùng cơm, nên sai lão nô mang chút đồ ăn tới.”
“Nhị gia chẳng những dung mạo tuấn tú, mà người cũng thật tốt!” Diêu Diên vui vẻ ngồi xuống bàn. Trên bàn có canh cơm, ngỗng nấu rượu nếp, gà hấp khô, thịt hoa mai om tỏi, thêm mấy món rau tươi theo mùa, từng đĩa nhỏ bày ra gọn gàng. Nàng thực sự đói, ăn rất ngon miệng, đến cả bát canh bát bảo cũng dùng quá nửa.
Lý ma ma dọn dẹp xong xuôi, Tiểu Xuân thình thịch chạy vào nói: “Nhị lão gia đến rồi.”
Diêu Diên vội vàng trở lại giường, phủ khăn hỷ lên đầu. Chỉ nghe tiếng bước chân từ xa tới gần, dừng lại ngay trước mặt nàng. Nàng rũ mắt nhìn đôi ủng đế dày màu đen giẫm lên vạt váy mình, bất động không nhúc nhích. Nàng nín thở, chờ chàng vén khăn.
Chờ mãi, chờ mãi, vẫn không thấy động tĩnh.
Chàng đang làm gì? Đang nhìn gì? Sao lại ngẩn ra như vậy?
Trán Diêu Diên rịn mồ hôi mịn, chỉ cảm thấy đỉnh đầu như sắp bốc cháy, nàng không nhịn được khẽ vặn người. Bỗng trước mắt sáng bừng, nàng ngẩng đầu lên, khăn hỷ đã được vén rất cao, như cánh hoa rơi xuống, lặng lẽ đáp đất.
Ngụy Cảnh Chi cũng đang nhìn nàng, nét mặt không chút biểu cảm, đôi mắt đào hoa sâu không lường được. Tim nàng bỗng đập nhanh không rõ nguyên do, gò má cũng đỏ lên, đầu ngón tay khẽ kéo tay áo chàng, giọng mềm mại gọi: “Phu quân… phu quân.”
Con gái của Diêu lão cẩu, kẻ thù gặp mặt lẽ ra phải mắt đỏ ngầu, sợ hãi run rẩy, vậy mà nàng lại dám gọi chàng là phu quân?! Sao gọi nổi? Hay là dùng lui để tiến? Người đàn bà này không thể coi thường.
Ngụy Cảnh Chi cười lạnh một tiếng.
Ai da, chàng cười lên, mày mắt sáng sủa, môi mỏng khẽ mím, đúng là một nhị gia thanh tú. Hoàn toàn trúng tim nàng.
Ngụy Cảnh Chi phất tay áo, nghiêng người ngồi xuống bên nàng: “Đêm đã khuya, còn chưa rửa mặt nghỉ ngơi sao!”
“Phu quân đợi ta một chút.” Diêu Diên đứng dậy, rót hai chén rượu hoa điêu, đưa cho Ngụy Cảnh Chi một chén, tự cầm một chén, nói: “Phu quân uống trước một ngụm.”
Chẳng lẽ rượu có độc?
Ngụy Cảnh Chi bình thản nói: “Cô uống trước đi.”
Phu quân còn thật khiêm nhường.
Diêu Diên hớn hở uống một ngụm, Ngụy Cảnh Chi chăm chú nhìn nàng, lúc này mới nhấp nhẹ một ngụm.
Diêu Diên nhận lấy chén rượu của chàng, cùng chén của mình đổ chung vào bát, lắc đều rồi rót lại vào hai chén. Nàng đưa cho Ngụy Cảnh Chi một chén, tay phải khoác lấy tay phải của chàng, nói: “Cùng uống đi.”
Ngụy Cảnh Chi thấy nàng uống cạn rượu, lúc này mới hiểu ra, thì ra là muốn cùng chàng uống rượu giao bôi. Chàng không nói gì, đã không có độc, liền một hơi uống cạn.
Phải rồi, thành thân thì phải uống rượu giao bôi, ý là “trong ta có chàng, trong chàng có ta”, nếu không thì tính là vợ chồng gì chứ.
Diêu Diên đặt hai chén rượu lên bàn, kéo ngăn tủ ra, lấy một chiếc kéo, nắm chặt trong tay, từng bước từng bước đi về phía Ngụy Cảnh Chi.
Ngụy Cảnh Chi hỉ nộ không lộ ra mặt, ánh mắt âm trầm nhìn nàng áp sát, nhìn nàng giơ cao chiếc kéo, nhìn nàng đột ngột vung tay kéo rơi xuống, liền mạnh tay siết chặt cổ tay mảnh khảnh của nàng, cười khẩy một tiếng: “Muốn giết ta? Tự lượng sức mình.”
Diêu Diên kêu lên: “Buông ra!”
“Đêm động phòng mà dám giết ta? Diêu Diên, cô và cha cô đúng là cùng một giuộc, tìm chết!”
“Ta giết chàng làm gì?” Diêu Diên lấy làm lạ: “Ta chỉ muốn cắt một lọn tóc của chàng thôi.”
“Cắt tóc ta làm gì?” Chàng nghiêm giọng ép hỏi.
“Để làm lễ ‘hợp kế’ chứ sao.” Nàng đáp.
“‘Hợp kế’ là cái lễ gì?”
“Có câu tục ngữ nói: cắt mây tóc thê tử một đoạn, chia vài sợi tóc lang quân, quấn thành nút đồng tâm, tơ giao kết rồng phượng, đời này bên nhau trọn kiếp, xuống Hoàng Tuyền cũng theo cùng. Phu quân cắt một lọn tóc, ta cắt một lọn tóc, quấn thành kết đồng tâm, cất vào hộp gấm. Đợi sau này hai ta tuổi già qua đời, phải hợp kế rồi mới có thể chôn chung một huyệt, cùng sang kiếp khác, luân hồi lại làm vợ chồng.”
Diêu Diên chớp đôi mắt long lanh như nước xuân, bĩu môi nói: “Hoá ra phu quân cũng không biết chuyện này.”
Còn muốn chôn chung một huyệt với chàng!
Luân hồi còn muốn làm vợ chồng!
Lại còn chê chàng học vấn chưa đủ!
Ai cho nàng lá gan nói ra những lời như vậy?
Có lẽ là vì ám sát chàng không thành nên bịa cớ. Cũng có thể là thuật công tâm, muốn chọc tức chàng đến chết. Chàng sao có thể trúng kế của nàng, liền thu lại chiếc kéo, hất tay nàng ra.
Cổ tay Diêu Diên lập tức nổi lên một vòng bầm xanh đỏ, nàng tủi thân ngay, giơ tay ra trước mặt chàng cho chàng xem: “Phu quân đánh ta, đau lắm.”
“Trong ngăn kéo có thuốc mỡ.” Chàng lạnh lùng nói: “Tự bôi đi.”
“Chúng ta còn chưa làm lễ hợp kế cơ mà!”
Ngụy Cảnh Chi cũng không biết là do uống rượu, hay vừa rồi đấu trí đấu sức với người đàn bà họ Diêu, mà đầu bỗng hơi đau. Chàng dứt khoát không thèm để ý tới nàng nữa, cởi giày lên giường, nằm ngửa nghỉ ngơi.
Diêu Diên gọi Lý ma ma vào hầu hạ chải đầu rửa mặt, tẩy đi lớp phấn son dày nặng, thay xiêm y, búi tóc lỏng lẻo thành một búi quấn đơn giản. Thu xếp ổn thỏa xong, nàng cũng lên giường. Tiểu Xuân bưng chậu đồng nước thừa ra ngoài đổ đi, Lý ma ma buông rèm giường, đốt hương, nến đỏ vẫn cháy, rồi lặng lẽ lui ra khỏi phòng, buông màn cửa xuống.
Diêu Diên nghe trong phòng dần yên tĩnh, bỗng nghe thấy tiếng gấm vóc cọ xát. Chưa kịp phản ứng, Ngụy Cảnh Chi đã đè tới, tách hai chân nàng ra, rồi chống người dậy nửa thân, trong tay là thứ dược tình mà Trình Nguyên Huy đưa cho.
Chàng muốn cùng nàng viên phòng, nhưng không có hứng dây dưa. Dây dưa tất sinh dục niệm, mà chỉ cần dính đến một chữ “tình”, rất dễ sinh nghiệt duyên. Nữ nhi của kẻ thù, chàng tuyệt đối sẽ không mềm lòng nửa phần. Vì thế dùng dược tình, nhanh gọn dứt khoát, mới là lựa chọn sáng suốt.
GIÓ MƯA – CHƯƠNG 35 – PHẦN 4
Chương 35: Ngọai truyện: Liễu Trinh Nương
*
Liễu Trinh Nương cảm thấy mình có một gia đình rối tinh rối mù, khiến người ta phiền lòng vô hạn.
Phụ thân nàng tự cho mình là thanh cao, ngoài việc lãng phí giấy bút mực nghiên, rồi quát tháo con cái om sòm, thì đối với đời chẳng có chút ích lợi nào. Mẫu thân xuất thân tiểu thương, khư khư giữ chặt chút của hồi môn còn sót lại, từng đồng từng cắc tính toán chi tiêu ăn mặc ở đi lại, lời nói hành vi cay nghiệt đến cực điểm.
Huynh trưởng tỷ muội tuy tính tình mỗi người một khác, nhưng thống nhất ở hai chữ tầm thường. Liễu Trinh Nương nói chuyện với họ cũng đã thấy mệt.
Năm nàng năm tuổi, từng dùng than vẽ lên bức tường trắng trong hậu viện nhà mình một bức tranh gà con mổ thóc. Có một lão họa sư đi ngang qua, dừng chân xem hồi lâu, sau đó nói với vợ chồng Liễu thị rằng: nhị nữ nhà họ có thiên phú dị bẩm trong việc hội họa, lão nguyện thu Trinh Nương làm đồ đệ.
Vợ chồng Liễu thị liền cười phá lên: Thời buổi này, bọn lừa gạt đều thẳng thừng đến thế sao?
Thế là dứt khoát cự tuyệt.
Lão họa sư không chịu bỏ cuộc, ra sức khuyên nhủ, thậm chí còn mời cả thầy đồ trong làng ra làm chứng, nói lão vốn là thái giám trong cung được cho hồi hương dưỡng lão. Khi ấy vợ chồng họ Liễu mới chịu gật đầu, dù sao cũng không phải trả học phí.
Thế là mỗi ngày Trinh Nương theo huynh trưởng đến tư thục, huynh trưởng học bài trong chính đường, còn cô thì ở gian thiên sảnh theo lão họa sư học vẽ.
Lão họa sư ở lại địa phương ba năm.
Lão nói Trinh Nương là người có nghị lực và linh khí bậc nhất mà lão từng gặp trong đời, lão đã dạy không còn gì để dạy nữa. Chỉ tiếc Trinh Nương là nữ tử, nếu không có lẽ đã có thể chấn hưng được họa phái của bọn họ.
Lão còn nói, họa phái của bọn họ không được giới quyền quý ưa thích, bởi họ chủ trương: kẻ xấu xí thì phải vẽ cho ra xấu xí, kẻ tham lam thì phải vẽ cho ra tham lam, sự nghèo đói thì phải vẽ đến mức chói mắt, tội ác thì phải vẽ thẳng xuống chín tầng địa ngục.
Triều đình và cung cấm đã không thích, thì thế gia cao môn lại càng chẳng thèm truy phủng. Bọn họ thích những thứ hàm súc, trung dung, kiểu bút pháp Xuân Thu. Vì vậy mấy người đồng đạo với nhau đã nói rõ: dù không thể phát dương quang đại họa phái, cũng nhất định phải truyền lại kỹ pháp, Trinh Nương cũng phải làm như vậy.
Sau khi lão họa sư rời đi, Trinh Nương chỉ còn có thể tự học.
Nàng bò rạp ngoài ruộng quan sát đất đai cỏ dại, ngồi xổm bên mương nước nhìn ánh sóng lưu động, thậm chí còn quan sát phụ thân và huynh trưởng lúc vung bút luyện chữ dùng lực ra sao.
Nàng gom góp toàn bộ tiền lẻ để mua màu vẽ, tiền không đủ thì xin phụ mẫu huynh tỷ. Bao nhiêu lần bị từ chối, cô cũng chẳng để trong lòng. Mãi đến khi Liễu mẫu biết tranh môn thần do nữ nhi vẽ lại có thể bán được giá ngang một món thêu, lúc ấy mới đồng ý mua màu vẽ cho nàng.
Năm mười tuổi, Trinh Nương lén chạy đến chùa xem họa sư vẽ tượng Phật, tình cờ gặp thiên kim nhà họ Tiết theo gia quyến đi thắp hương.
Hai nữ đồng sinh cùng năm, cảnh ngộ khác nhau một trời một vực, vậy mà lại ngoài ý muốn hợp ý nhau.
Tiết Anh từ nhỏ đã học chữ học vẽ, nàng khen ngợi kỹ nghệ của Trinh Nương không tiếc lời, thậm chí còn chỉ ra rất sắc bén rằng: cảnh vật Trinh Nương vẽ còn có linh khí hơn cả nhân vật. Trong tranh của cô, dường như cảnh là sống, mà người thì lại chết.
Đến lúc ấy Trinh Nương mới nhận ra, thói quen không thích giao tiếp với người của mình đã ảnh hưởng đến hội họa.
Từ đó về sau, nàng dứt khoát chuyên tâm vẽ phong cảnh.
Sau khi xem tranh của Trinh Nương, cha mẹ nhà họ Tiết ngầm cho phép Tiết Anh qua lại với nàng, nhưng không cho Tiết Anh đến nhà họ Liễu, chỉ cho phép Trinh Nương tới nhà họ Tiết, hơn nữa chỉ được ra vào bằng cửa bên.
Tiết Anh vô cùng hổ thẹn, nhưng Trinh Nương lại thấy chẳng có gì. Ở nhà họ Tiết nàng được ăn ngon uống tốt, còn có thể xem bộ sưu tập thư họa của nhà họ Tiết. Tiết Anh đến nhà họ Liễu thì làm được gì? Để cho huynh trưởng có tâm tư khác lạ săm soi sao?
May mà Tiết Anh tính tình hiền hòa, khuê trung mật hữu rất nhiều, thêm một Liễu Trinh Nương cũng chẳng có gì lạ, ngay cả nha hoàn bên cạnh Tiết Anh cũng không mấy để ý tới nàng.
Sau khi tầm mắt được mở rộng, họa kỹ của Trinh Nương tiến bộ như vũ bão. Không ít hiệu sách nguyện ý ký gửi tranh của cô, bảy tám bức tranh đã bán được một quan tiền. Vẽ phướn Phật còn kiếm được nhiều hơn, mà kiếm lời nhất vẫn là vẽ theo đơn đặt hàng.
Thế là Trinh Nương bắt đầu vẽ mẫu đơn, trúc lâm, khúc thủy lưu thương, thậm chí cả tranh săn bắn quần thú… Dù nàng vẽ chậm, nhưng tiền lại kiếm ngày càng nhiều.
Tiết Anh vừa mừng cho bằng hữu, lại vừa lo cho tiền đồ của nàng.
Trinh Nương nói nàng đừng lo, nàng không muốn lấy chồng, càng không để gia đình đem mình bán gả. Nếu người trong nhà không muốn tiền mất người cũng mất, thì tốt nhất đừng ép nàng.
Năm mười lăm tuổi, Trinh Nương lần đầu tiên nghe đến cái tên Bùi Hoàn, vẫn là từ miệng bằng hữu nói ra.
Tiết Anh thẹn thùng thổ lộ tâm sự, nói rằng nàng đã đem lòng ái mộ một vị công tử họ Bùi ở Hà Đông. Vị công tử ấy xuất thân cao quý, dung mạo tuấn tú, phong thái tiêu sái, tóm lại không có chỗ nào không tốt. Không biết có phải Bồ Tát nghe thấy lời khấn thầm kín của nàng hay không, mấy ngày trước nhà họ Bùi lại nhờ người sang thăm dò ý tứ, nói là đã coi trọng nàng để làm tân phụ cho vị công tử kia.
Khi ấy nàng đang bận rộn phác nét trên giấy vẽ, chỉ ừ ừ đáp mấy tiếng, sắp đến hạn giao tranh rồi, chậm là bị phạt tiền.
Ai ngờ sang năm sau, nàng nghe tin Tiết Anh sắp gả sang một thế tộc khác, nghe nói là một chi nhánh của họ Vu ở Trần Châu thuộc Hà Nam, liền vội vàng chạy đi hỏi cho rõ ngọn ngành.
Tiết Anh khóc đến gan ruột đứt từng khúc: “Bùi công tử nói chàng không muốn cưới vợ, dù có cưới cũng phải tự mình chọn, rồi để lại thư mà bỏ đi. Trinh Nương, có phải chàng ghét ta không? Ta sẽ không cản trở chí hướng của chàng đâu, cưới ta rồi chàng vẫn có thể du lịch thiên hạ mà.”
Dù nàng không rõ đầu đuôi câu chuyện, nhưng điều đó cũng chẳng hề cản trở việc nàng mắng chửi kẻ mang họ Bùi kia thậm tệ. Nàng chửi đến cay nghiệt chua ngoa, thô tục không chịu nổi, coi như thay bằng hữu xả được cơn giận. May mà sau này nàng nghe nói Tiết Anh ở nhà họ Vu sống cũng ổn, Trần Châu lại không xa, sau này có cơ hội nàng vẫn có thể tới thăm bằng hữu.
Thoắt cái đã mấy năm trôi qua, trưởng tỷ và muội muội của nàng đều lần lượt xuất giá. Tỷ phu là một tiểu quan lại gia cảnh sung túc, muội phu là một tiểu phú thương gia cảnh sung túc, khẩu vị chọn rể của nhà họ Liễu xưa nay vẫn giản dị mộc mạc như vậy.
Còn nhân phẩm, tài học, dung mạo của lang quân, có quan trọng lắm sao?
Ngoài việc thỉnh thoảng nhận được thư của Tiết Anh, mỗi ngày nàng đều bận rộn học hỏi suy ngẫm, vẽ tranh bán tranh, ứng phó với phụ huynh huynh trưởng tham lam cùng đám bà mối đáng ghét. Cái tên Bùi Hoàn nàng gần như đã quên sạch, vậy mà người ta lại tự mình tìm tới cửa.
Bùi Hoàn nói chàng đã nhìn thấy tranh của nàng trong hiệu sách, lập tức để tâm —— tranh của nàng hoàn toàn khác biệt với phong cách Ngô đới đương phong, mềm mại phiêu dật đang thịnh hành hiện nay; nàng chú trọng từng chi tiết nhỏ, hình thần đều đủ. Xem tranh của nàng, tựa như thân lâm kỳ cảnh.
Dưới sức nặng của bạc tiền, ông chủ hiệu sách không chút do dự bán đứng thân phận và chỗ ở của nữ họa sư giấu tên, thế là Bùi Hoàn ngay trong đêm mò tới cửa.
Ban đầu nàng tưởng gặp phải kẻ háo sắc, liền thả ngay con chó vàng to ra cắn người; sau đó lại tưởng Bùi Hoàn tới mua tranh, thế là nàng nghiêm túc ngồi thương lượng giá cả với đối phương suốt nửa ngày, từ tính tiền theo bức cho đến tính tiền theo ngày, nói đến khô cả cổ họng, Bùi Hoàn vẫn chỉ lắc đầu.
“Rốt cuộc huynh muốn làm gì? Mua thì mua, không mua thì cút, ta bận lắm.”
Nàng bực bội nổi nóng.
Bùi Hoàn lúc này mới chịu nói thật.
Những năm qua chàng đã đi không ít nơi, chỉ tiếc rằng dù là phong quang kinh thiên động địa đến đâu, chàng xem rồi cũng chỉ là xem qua, nhiều lắm viết vài thiên du ký cho người khác đọc. Bao nhiêu xúc động và chấn động lúc ấy đều chỉ có thể dồn nén trong lòng, không cách nào chia sẻ cùng ai.
Chàng hy vọng nàng có thể theo chàng, đi tới đâu thì vẽ tới đó.
Nàng nghe mà trong lòng ngập tràn khát vọng.
Vùng đất một mẫu ba sào quanh đây nàng đã vẽ đến chán ngấy, ngay cả ổ chó nhà hàng xóm nàng cũng đã vẽ ba lượt rồi. Nàng khao khát biết bao được nhìn ngắm thế giới bên ngoài, sông lớn biển rộng, hồ núi trập trùng, tuyết sơn sa mạc.
Từng có một vị khách muốn nàng vẽ một bức “mãnh hổ hạ tuyết lĩnh”, nhưng nàng chưa từng thấy tuyết lĩnh, cũng chưa từng thấy mãnh hổ, dù kỹ nghệ có cao đến đâu cũng không thể vẽ ra được, khi ấy nàng đã gục trên bàn khóc suốt hồi lâu.
Nàng giống như một con ếch ngốc đáng thương bị nhốt dưới đáy giếng, vĩnh viễn chỉ có thể nhìn thấy miệng giếng tròn tròn kia.
Kẻ họ Bùi có thể đi bất cứ đâu, nhưng lại không biết vẽ; còn nàng thì vừa hay ngược lại, nàng có thể vẽ lại bất cứ cảnh sắc nào, chỉ tiếc không thể một mình du hành tứ phương. Xét về nhu cầu, hai người quả thực là vừa khít đến chuẩn xác, vừa gặp đã hợp.
Thế nhưng nàng dù có không rành sự đời đến đâu, cũng hiểu nam nữ hữu biệt, không thân không thích, làm sao có thể tùy tiện theo người ta rời đi.
Vì vậy Bùi Hoàn đề nghị, chàng có thể cưới nàng.
Nàng lập tức trở mặt: làm ăn thì còn nói được, thành thân thì miễn bàn, nàng ghét nhất là gả chồng!
Thái độ nàng kiên quyết, Bùi Hoàn cũng không còn cách nào khác, đành tạm thời quay về.
Năm ấy, nàng hai mươi tuổi.
Từng có lúc nàng nghĩ rằng chỉ cần mình không ngừng vẽ tranh bán tiền, phụ huynh sẽ vì sợ mất lợi mà không dám ép nàng xuất giá. Ai ngờ nàng đã đánh giá thấp lòng tham của con người.
Một thương nhân buôn muối vùng Giang Nam cho rằng họa kỹ của nàng là món hàng hiếm có, bèn đích thân đến cầu thân, mở miệng đã là sính lễ tám trăm quan tiền — cái giá trên trời.
Liễu phụ ban đầu còn tự phụ mình là hậu duệ danh môn, họ hàng tôn quý, nhưng khi thương nhân buôn muối nâng giá lên một nghìn quan, mấy cha con mắt đều xanh cả lên, chẳng còn顾得 gì nữa —— bọn họ đã sớm chán ghét nhà cửa thôn dã, luôn mong dọn về Trường An phồn hoa.
Một tòa tam tiến trạch viện quanh hoàng thành Trường An đại khái cần sáu bảy trăm quan tiền. Mỗi tháng nàng có thể kiếm được ba đến bốn quan, tuy đã cao hơn bổng lộc hàng tháng của quan viên phẩm hàm tám chín, nhưng vẫn cần tích góp hơn mười năm mới mua nổi một tòa nhà.
Giờ đây nhà họ Liễu chỉ cần bán đi một nữ nhi là có thể mua được trạch viện tao nhã hằng mơ ước, còn dư tiền mua ruộng đất nô bộc — kẻ ngu mới không đồng ý!
Dù đem nữ nhi bán hôn cho thương nhân buôn muối quả thực mất mặt, nhưng chỉ cần dọn về Trường An rồi coi như chưa từng có đứa con gái này là được. Khi ấy bọn họ vẫn là chi thứ họ Liễu của thế tộc, phong quang rạng rỡ như thường.
Nàng tuyệt vọng rồi.
Tình thân giữa nàng và gia nhân vốn đã nhạt nhòa, bao năm nay đều dựa vào lợi ích để tự bảo toàn. Đến nước này, nàng không nghĩ ra được bất cứ biện pháp nào có thể thay đổi quyết định của phụ huynh huynh trưởng.
Đây rốt cuộc là một thế giới hoang đường đến nhường nào, nàng có một thân bản lĩnh, có thể tự kiếm tiền nuôi sống mình, thậm chí còn có chút danh tiếng, vậy mà phụ huynh vẫn nắm trong tay quyền chi phối thân xác và tương lai của nàng.
Mẫu thân tìm một ví dụ vô cùng khôi hài để an ủi nàng: “Con nghĩ thoáng ra một chút đi, tam đường thúc nhà bá tổ phụ con có đứa ngũ chất nghiện cờ bạc thành tật, vậy mà còn đem cả nữ nhi bán xuống tiện tịch đấy. Thật là chẳng ra thể thống gì, chậc chậc.”
Đem con gái ruột đẩy thẳng vào địa ngục, vậy mà trong mắt bà ta cũng chỉ là “chẳng ra thể thống”?!
Nàng cười đến ứa cả nước mắt.
Đêm đó, Bùi Hoàn lại tới. Nàng không biết từ lúc nào đã lặng lẽ chống mở cửa sổ.
Bùi Hoàn: “Ta nghe nói nhà nàng đang lo liệu hôn sự.”
Nàng không nói gì.
Bùi Hoàn: “Nàng thật sự muốn gả cho tên thương nhân buôn muối ấy sao? Ta nghe danh tiếng hắn không được tốt.”
Nàng vẫn im lặng.
Bùi Hoàn: “Gả cho ta đi. Ta sẽ đưa nàng tới chân trời góc biển, nàng vẫn có thể tiếp tục vẽ tranh.”
Nàng: “…Được.”
“Nhưng ta phải chờ hồi đáp của một người.”
Nói xong nàng lập tức viết một phong thư ngắn, sai Bùi Hoàn cho người cưỡi khoái mã đưa tới nhà họ Vu ở Trần Châu.
Nghe đến cái tên Tiết Anh, Bùi Hoàn hoàn toàn không có phản ứng gì, mãi đến khi được nàng nhắc nhở mới nhớ ra, năm xưa trong nhà từng xem xét cho chàng một vị khuê tú danh môn, hình như cũng họ Tiết.
Không hiểu vì sao chàng lại bị nàng ném cho một tràng cười lạnh kèm theo ánh mắt khinh bỉ, Bùi Hoàn cảm thấy mình vô cùng oan uổng.
Có lẽ trong một buổi yến thưởng hoa nào đó Tiết Anh từng gặp chàng, nhưng chàng hoàn toàn không nhớ mình đã từng gặp Tiết Anh, hai người thậm chí còn chưa nói với nhau lấy một câu.
Bùi Hoàn nhịn “nội thương”, phái người đưa thư đi, còn tự an ủi mình: “Cũng tốt, Tiết nương tử đã thành hôn nhiều năm, hẳn sẽ lượng thứ cho sự thất lễ năm đó của ta.”
Nàng đáp: “Ai nói ta viết thư chỉ để nói với tỷ ấy rằng ta sắp gả cho huynh? Trong thư ta hỏi là, nàng ấy còn thích chàng hay không. Nếu còn thích, thì hãy hòa ly với phu quân hiện tại, cùng ta gả cho chàng.”
Bùi Hoàn như bị sét đánh ngang tai, chàng vừa nghe thấy cái gì vậy? Là chàng nghe nhầm hay là Liễu tiểu nương tử nói nhầm? Bây giờ đuổi theo người đưa thư còn kịp không?!
“Tiết nương tử đã thành hôn nhiều năm, chính nàng cũng nói nàng ấy sống rất ổn, nàng nàng nàng sao có thể đưa ra đề nghị hoang đường như vậy!”
Nàng lắc đầu: “Sống ổn và sống vui là hai chuyện khác nhau. Ta đã đọc thư của nàng ấy, ta biết nàng ấy không thích lang quân nhà họ Vu. Huynh không cần lo, song thân của A Tiết rất thương con gái, hòa ly thôi, chẳng phải chuyện gì lớn. Huống hồ gia thế nhà chàng tốt hơn nhà họ Vu nhiều, song thân nàng ấy sẽ không phản đối đâu. Đến lúc đó huynh cùng nàng ấy làm vợ chồng, ta làm họa sư cho huynh; hoặc nàng ấy làm chính thất, ta làm thiếp cũng được.”
Bùi Hoàn gần như phát điên: “Đây toàn là nàng tự nói tự quyết, nàng có hỏi qua ta có đồng ý hay không chưa?! Nếu ta không muốn thì sao?!”
Nàng nhìn chàng bằng ánh mắt kỳ quái: “Chàng chẳng qua chỉ cần một họa sư theo bên người mà thôi, lấy đâu ra chuyện muốn hay không muốn. A Tiết hiền thục ôn nhu, tinh thông chữ họa, còn có một tay nghề dệt nhuộm rất tốt, là chàng được lời rồi.”
Bùi Hoàn vốn tưởng trở ngại lớn nhất khi chàng thành thân với nàng là sự phản đối của gia tộc. Nay xem ra, đám lão tổ tông nhà họ Bùi kia kỳ thực còn rất tử tế, ít nhất bọn họ nói lời còn giống lời người.
Mười ngày sau, thư hồi âm của Tiết Anh đến.
Tạ ơn trời đất, kẻ đầu óc có vấn đề chỉ có một mình Liễu thị Trinh Nương, Tiết Anh thì hoàn toàn bình thường. Trong thư, nàng chúc mừng nhân duyên của bằng hữu, nói rằng năm xưa mọi chuyện đều là tuổi trẻ khinh cuồng, nay nàng đã gả làm người khác, tự nhiên phải giữ gìn phụ đạo. Vu lang quân tính tình ôn hòa lễ độ, vợ chồng hai người sống hòa thuận, bảo nàng không cần lo lắng.
Tiết Anh lời lẽ chân thành, tình nghĩa sâu nặng, còn nhờ người đưa thư mang về một hộp trâm vòng châu ngọc, nói là thêm trang sức cho nàng.
Nàng ôm chiếc hộp ấy, khóc suốt một đêm.
Nàng hiểu rõ, bằng hữu chưa từng buông bỏ chuyện năm xưa, chỉ là Tiết Anh cũng có lòng tự trọng, không thể chấp nhận một đoạn nhân duyên đến từ sự bố thí.
Ngày nàng xuất giá, cả mười dặm tám thôn đều bị kinh động.
Với gia thế và tài mạo của Bùi Hoàn, đến cả việc lấy công chúa cũng dư sức. Ngay cả đế hậu cũng cho rằng chàng sẽ chọn một vị khuê tú danh môn ở Đông Kinh hoặc Tây Kinh làm thê tử. Ai ngờ chàng chậm trễ mấy năm, lại cưới một nữ tử họ Liễu dung mạo bình thường, xuất thân tầm thường, khiến thiên hạ ai nấy đều sững sờ, nghe nói suýt nữa làm Bùi lão phu nhân tức chết.
Cha con nhà họ Liễu nghĩ tới việc có thể kết thân với dòng chính của Bùi thị Hà Đông, mừng đến mức nước dãi sắp chảy ra.
Bùi Hoàn cuối cùng cũng có dịp thể hiện năng lực làm việc gọn gàng dứt khoát của mình, không biết chàng đã sắp xếp thế nào, hay là nắm được nhược điểm của cha con họ Liễu, nhưng suốt cả đời nàng, nàng không bao giờ còn bị phụ huynh huynh trưởng dây dưa đòi hỏi nữa.
Ngoài việc mẫu thân qua đời và muội muội bị em rể đánh đập, nàng cũng không gặp lại người nhà lần nào nữa.
Sau khi thành hôn, nàng mới thực sự hiểu thế nào là sống qua ngày.
Nàng không còn phải vẽ trên giấy thô ráp, cũng không cần vì mua thêm một tiền màu vẽ mà thắt lưng buộc bụng. Nàng có vật liệu vẽ dùng không hết, mà quan trọng hơn cả, nàng rốt cuộc cũng được nhìn thấy những danh sơn đại xuyên hằng mơ ước.
Bùi Hoàn thậm chí còn đưa nàng lần lượt bái phỏng những danh họa chỉ nghe tên mà chưa từng gặp, để nàng có cơ hội giao lưu họa kỹ với các bậc đại gia đương thời, mở mang tầm mắt.
Tranh pháp của Trinh Nương lần thứ ba đại tiến. Nàng vẽ vách đá khiến người nhìn như có cảm giác rơi xuống vực sâu, vẽ ao hồ tựa như đưa tay có thể chạm đến làn sóng nước, vẽ trời cao mây trôi tựa như bích ngọc vỡ tung nơi càn khôn. Trong tộc có hai tiểu lang quân xem bức họa sóng lớn nơi hải mạc, liền bỏ cả khoa cử, lén lút chạy đến vùng Đông Hải du lịch, từ đó Bùi phu nhân càng thêm chán ghét nàng.
Thực ra ngày tháng lâu dần, Bùi thị cũng dần chấp nhận đôi vợ chồng kỳ quái này, lang quân chí hướng khác thường, nương tử họa phong lại càng khác thường. Bùi Thái công thậm chí còn tự giễu, cười nói trong nhà có một đôi “nắp vỡ ghép nồi thủng” là con trai con dâu.
Từ nhỏ đến lớn, ngoài vẽ tranh, ngoài Tiết Anh, cùng sự an nguy của bản thân, Trinh Nương đối với nhân sự khác đều khá chậm lụt. Nàng biết Bùi Hoàn đối với nàng rất tốt, nhưng vì sao tốt, tốt đến mức nào, nàng chẳng hiểu cũng chẳng cầu giải.
Năm thứ ba sau hôn lễ, một ngày Trinh Nương một hơi vẽ ra cảnh nhật xuất trên đỉnh núi mà nàng vừa thấy hôm trước. Bức tranh khí thế hùng vĩ, lực xuyên giấy mực, đạt đến trình độ chưa từng có của Trinh Nương. Nàng cùng Bùi Hoàn đối diện bức họa nhìn trái nhìn phải đều vô cùng vui mừng, đêm ấy uống đến nửa say, quanh bàn vẽ vừa ca vừa múa, cuối cùng hồ đồ lăn vào nhau.
Từ đó, hai người coi như viên phòng, chủ nhân cùng họa sư thành vợ chồng thực sự.
Năm thứ tư sau hôn lễ, Bùi Hoàn nghe tin nhà họ Tiết bị tội, cả môn bị tru diệt, liền mang Trinh Nương vội vã chạy đến Trần Châu. Nào ngờ đến nhà họ Vu, lại bị báo rằng Tiết Anh đã tự cầu hạ đường, xa xứ mà đi.
Trinh Nương có chút nghi ngờ, trong ấn tượng của nàng, tuy Tiết Anh không thích phu quân của mình, song lang quân họ Vu nhân phẩm vốn không có vấn đề, người ta đường đường chính chính cũng chẳng có lý do lừa nàng.
Bùi Hoàn so với nàng đa thêm tâm nhãn, phái người tại Trần Châu tìm khắp một vòng, rốt cuộc chẳng được gì.
Cha mẹ thân trưởng của Tiết Anh đều đã chết hết, nàng sẽ đi đâu?
Thấy thê tử lo lắng, Bùi Hoàn liền an ủi, Tiết Anh vốn có nô bộc cùng phong hậu sính lễ, đi đâu cũng chẳng lo ăn mặc.
Mấy tháng sau, Trinh Nương bất ngờ có thai.
Thai sự này chẳng khác nào tai họa, Trinh Nương suốt thai kỳ nằm liệt giường, thai tướng cực xấu, lúc sinh còn suýt mất mạng, cuối cùng sinh ra một nam hài trời sinh bất túc. Chừng hai tháng trước, muội muội ruột của Bùi Hoàn là Sở vương phi cũng sinh một nam hài, nghe nói cũng bệnh yếu vô cùng, Bùi phu nhân mặt đen như đáy nồi.
Sau trận sinh nở dữ dội, Trinh Nương dưỡng bệnh mấy năm mới hồi phục, vợ chồng đều vô lực tự mình tìm Tiết Anh, chỉ có thể nhắn khắp Bùi thị: nếu có phụ nhân họ Tiệt đến cầu cứu, xin hãy báo cho vợ chồng họ.
—— Từ đó, kết thành tiếc nuối cả đời của Trinh Nương.
Bùi Hoàn tuy thông minh tuyệt đỉnh, rốt cuộc chưa từng xử lý việc vặt tầng dưới, cả đời giao du đều là danh sĩ tao nhã, cho dù là ác nhân, cũng ác đến mức có phong cách.
Nếu đổi thành Bùi Thứ Chi lâu năm đấu trí cùng người, thủ đoạn hẳn lão luyện hơn nhiều.
Tùy tùng thị vệ bên Bùi Hoàn nhiều lắm chỉ mấy chục người, Trần Châu rộng lớn, bọn họ người sinh đất lạ, tìm người chẳng khác nào mò kim đáy biển, biết đến bao giờ mới có kết quả. Tiết Anh khó tìm, nhưng nàng xuất giá mang theo bao nhiêu quản sự thị tỳ, nay đâu cả?
Nếu Tiết Anh chẳng phải biến mất bình thường, thì hơn hai mươi nô bộc từ nhà họ Tiết tất cũng bị xử trí cùng. Những người này đã chẳng còn ở nhà họ Vu, vậy hoặc là chết, hoặc là bị bán.
Nhà họ Tiết bị tội mới vài tháng, cho dù là nô bộc, một hơi giết hơn hai mươi mạng cũng quá phô trương. Quan khảo xét của Nữ hoàng chẳng phải bày cho có, nha phủ địa phương không thể coi như không thấy, nhà họ Vu cũng chẳng có bản lĩnh che trời bằng một tay.
Suy ra, nô bộc của Tiết Anh hẳn bị bán, trực tiếp tìm nha hành địa phương là được.
Nha hành địa phương tất thông tin qua lại, dưới trọng kim rất nhanh có thể tra ra chân tướng, sau khi nhà họ Tiết gặp nạn, nhà họ Vu lập tức bán hết nô bộc của nhà họ Tiết, lặng lẽ hạ đường Tiết Anh, chiếm đoạt sính lễ tài vật của nàng.
Tiết Anh cũng chẳng rời Trần Châu, mà ở nơi góc khuất ngoại thành gian nan sống qua ngày.
Đáng tiếc, Bùi Thiếu tướng lão luyện lúc ấy còn chưa ra đời.
Trinh Nương khỏi bệnh, lại cùng Bùi Hoàn du du bốn hải, hơn mười năm sau một lần đi qua Trần Châu, chợt thấy khó chịu, liền tìm một y quán nổi danh bắt thuốc, tình cờ nghe nói trong thành có một nữ tử dệt nhuộm vừa mất con gái, lại mù lại điên, thật đáng thương. Nô tỳ của nàng cầu khắp y quán trong thành, chẳng ai chữa được.
Khi ấy trong quán có người nói thêm một câu, nữ tử dệt nhuộm cũng thuê nổi nô tỳ, đủ thấy tay nghề chẳng tệ, thu nhập khá phong.
Có người đáp, nữ tử dệt nhuộm vốn xuất thân danh môn thế tộc, phụ huynh bị tội mới sa sút đến thế, nô tỳ kia vốn là thị tỳ thân cận của nàng.
Vợ chồng nghe xong liền nhìn nhau, lập tức lần theo dấu, chẳng bao lâu tìm được Tiết Anh tóc bạc, thân thể bệnh tật tàn tạ, ôm áo cũ của con gái lẩm bẩm, điên dại ngu ngơ.
Trinh Nương nhìn mà lòng tan nát.
Từ miệng Cao nương tử biết được chân tướng, Bùi Hoàn cũng giận không chịu nổi, lần này chàng không dám coi thường, tìm đến Bùi Thứ Chi đang thăng tiến chốn quan trường, giao việc xử trí nhà họ Vu cho y, còn mình đi tìm danh y chữa bệnh.
Bùi Thứ Chi khi ấy mười tám tuổi, chưa thể gọi là lão luyện, song đúng chuyên môn, y bảo đảm với vợ chồng Bùi Hoàn: Tiết phu nhân chịu bao nhiêu tội, bọn ác nhân nhà họ Vu cũng sẽ chịu bấy nhiêu, kẻ chủ ác trước, kẻ tòng phạm sau, cứ thế mà luận.
Nửa năm sau, vọng tộc Trần Châu là nhà họ Vu bị cuốn vào vụ án tham hối lớn. Chồng trước của Tiết Anh là Vu cùng cha mẹ anh em đều bị giam vào đại ngục nhiều năm, hao tận gia sản, chịu đủ cực hình, cuối cùng chết trên đường lưu đày.
Bùi Thứ Chi giết người còn giết cả tâm, cố ý sai người trước khi họ chết báo cho biết chân tướng: vụ án tham hối là giả, báo thù cho Tiết Anh mới là thật. “Các ngươi cầm thú chẳng bằng, năm ấy chỉ cần có một chút lòng trắc ẩn, Tiết Anh mẹ con đã chẳng đến nỗi thảm cảnh như thế. Được rồi, các ngươi có thể lên đường, không tiễn.”
Những người còn lại của nhà Vu bị đuổi ra thôn dã, làm ruộng độ nhật.
Vợ chồng Bùi Hoàn tận tâm chăm sóc Tiết Anh hai năm, sau đó mắt nàng có thể mơ hồ nhìn thấy đôi chút, song thần trí vẫn mê loạn, thân thể khi tốt khi xấu. Bùi Hoàn vốn là kẻ chẳng chịu ngồi yên, thuở trước vì chăm sóc thê tử bệnh yếu sau sinh mà cam tâm tình nguyện, còn với Tiết Anh thì chẳng có tình cũ, cuộc sống định cư dài lâu đơn điệu quả thật khó chịu.
Bùi Thứ Chi bị Bùi Hoàn thở dài than vãn làm phiền, liền thẳng thắn khuyên vợ chồng chớ tiếp tục hao phí bên Tiết Anh nữa. “Bệnh tình của Tiết Anh đã như thế, tốt lên là không thể, không xấu đi đã là may. Theo lời mấy vị danh y, chỉ cần để bà ấy sống thoải mái vui vẻ, bình yên qua hết mấy năm còn lại là được, việc này cứ giao cho con. Huống hồ Tiết Anh vốn chẳng nhận ra vợ chồng cậu mợ, tiếp tục phí thời gian cũng vô ích. Mau đi du ngoạn vẽ tranh đi, trời đất rộng lớn đang chờ cậu mợ, lưu danh thiên cổ cũng đang đợi cậu mợ. Người đâu, chuẩn bị xe ngựa!”
Vợ chồng Bùi Hoàn cùng Trinh Nương vốn phóng khoáng đến gần như lạnh tình, thấy lời ấy có lý, liền để Tiết Anh ở lại Bùi phủ tại Thần Đô, giao cho Bùi Thứ Chi vừa được Nữ hoàng đề bạt vào trung tâm chăm sóc.
Bùi Thứ Chi tiền bạc dư dật, một phen vung vàng rắc bạc khiến nơi ở của Tiết Anh rực rỡ hoa lệ, lại tìm một nhóm tiểu tỳ dịu dàng thân thiết vây quanh nàng cười nói, hôm nay hái hoa nghiền nước nhuộm móng, ngày mai nghe khúc đàn ca điều hương phấn . Tiết Anh tựa như trở về thời thiếu nữ vô ưu vô lự. Mỗi lần Trinh Nương quay về thăm, đều thấy thần sắc nàng thư thái hơn đôi chút.
Dần dần, Trinh Nương nhìn thấu tâm bệnh của bằng hữu. Thực ra Tiết Anh đã chẳng đặt Bùi Hoàn trong lòng, điều khiến nàng sụp đổ không chỉ là cái chết của ái nữ, mà còn là tự trách cuồn cuộn vô biên. Vì chút tự tôn thuở thiếu thời, nàng nhất quyết không chịu đến Bùi thị Hà Đông, khăng khăng tự nuôi con gái, thậm chí gần Trần Châu cũng có nhánh chi Bùi thị mà nàng chẳng chịu cầu cứu.
Nếu nàng chịu buông tâm kết, sớm ôm con thơ đến tìm bằng hữu thuở nhỏ, số mệnh của Trĩ Nương tuyệt chẳng đến nỗi như vậy.
Chính tự tôn của nàng đã hại chết con gái, loại tự trách này như độc dược khoan tim xoi cốt, ngày qua ngày ăn mòn tâm trí cùng thân thể, vô phương giải cứu.
Chẳng bao lâu, Bùi Thái công qua đời. Bùi Thứ Chi làm cháu phải thủ tang chín tháng, vợ chồng Bùi Hoàn thì phải thủ tang hai mươi bảy tháng.
Trinh Nương cùng Bùi phu nhân vốn nhìn nhau đã chán ghét, song lại phải thường xuyên gặp mặt, quả thật khổ sở.
Trinh Nương còn có thể vẽ tranh tự vui, Bùi phu nhân thì đau thương cùng uất khí, chẳng bao lâu liền ngã bệnh.
Mấy vị tẩu tẩu tuổi tác đã cao, Trinh Nương là con dâu út liền thành người chính chăm bệnh. Nói công bằng, Bùi phu nhân chẳng khó hầu hạ. Bà vốn là quý nữ cao môn có giáo dưỡng, cho dù chán ghét Trinh Nương, cũng chưa từng làm khó nàng.
Một ngày, Bùi phu nhân mơ màng tỉnh lại, thấy bên giường chỉ có Trinh Nương một mình trông nom. Bà bỗng nói: “Cô có biết, ta vẫn luôn chán ghét cô.”
Trinh Nương vội đặt xuống họa sách cùng bút than: “Người nói gì? À, chán ghét, con dâu biết.”
“Ta vẫn muốn hưu cô.”
“Con dâu cũng biết.”
“Vậy cô biết ta vì sao chán ghét cô chăng?”
Trinh Nương vốn biết rõ, lập tức đáp: “Con dâu dung mạo chẳng đẹp, xuất thân thấp hèn, hôn sự này quả làm nhục lang quân. Huống chi, con dâu cũng chưa để lại tử tức cho lang quân.”
Nào ngờ Bùi phu nhân lại nói: “Không phải vì lẽ đó.”
Trinh Nương: “?”
Bùi phu nhân chậm rãi xoay người, nhìn chằm chằm nàng nói: “Không phải vì môn đệ, cũng chẳng phải vì tử tức. Mà là, ngay từ lần đầu ta thấy cô, đã biết cô chẳng có một chút tâm tư nào đặt trên A Hoàn.
Cô chẳng để ý A Hoàn, cũng chẳng để ý Thất Lang. Thất Lang mất rồi, cô một giọt lệ cũng chẳng rơi. Cô đối với Nhược Trạm cũng chẳng để tâm. Trong mắt cô chỉ có tranh vẽ của chính mình, ngoài ra chẳng ai quan trọng.”
Lão phụ chậm rãi nằm xuống: “A Hoàn là nhi tử ta yêu thương nhất, chẳng có người mẹ nào chịu nổi việc ái tử bị coi nhẹ như thế.”
Trinh Nương lặng im hồi lâu, khẽ mở lời: “Khi thành hôn cùng A Hoàn, con từng nghĩ sẽ nhường A Hoàn cho A Tiết, để họ làm vợ chồng, con chỉ lo vẽ tranh. Nay A Tiết cảnh ngộ thê lương, đổi lại là con của hai mươi năm trước, ắt sẽ chẳng do dự mà lại nhường A Hoàn đi.”
“Nhưng khi con nghĩ đến chuyện ấy, trong lòng chỉ có một ý niệm duy nhất, con không muốn.”
Bùi lão phu nhân hơi nghiêng đầu.
Nàng rơi vào hồi ức: “Ngay cả bản thân con dâu cũng bị mình dọa cho giật mình. Nhưng lúc ấy con dâu chỉ nghĩ, đừng nói là nhường A Hoàn cho A Tiết, dù chỉ chia ra một chút thôi cũng không được.”
“A Tiết là tri kỷ duy nhất trong đời con dâu, với con dâu có ân có tình. Chỉ cần nàng ấy có thể khỏi bệnh, con dâu có thể đem cả tính mạng mình ra làm thuốc dẫn cho nàng ấy. Thậm chí… chặt bỏ bàn tay dùng để vẽ tranh.”
Bùi lão phu nhân giật mình kinh hãi.
Nàng nhìn thẳng vào mắt bà, bình tĩnh lặp lại: “Con dâu có thể chặt bỏ bàn tay vẽ tranh, lúc ấy con dâu thực sự đã nghĩ như vậy.”
“Con dâu từ năm năm tuổi đã cầm bút vẽ, hơn ba mươi năm trôi qua, tranh gọi là tác phẩm hay đã vượt quá trăm bức, danh sơn đại xuyên từng đi qua không biết bao nhiêu. Đời này con dâu đã không còn gì tiếc nuối, cho dù sau này không thể tự tay vẽ nữa, vẫn có thể dạy dỗ đồ đệ. Mẹ, con dâu rất coi trọng phu quân.”
Giọng nàng càng lúc càng nhẹ. Thừa nhận bản thân không đủ nghĩa khí với tri kỷ, vốn chẳng phải chuyện khiến người ta dễ chịu.
Bùi lão phu nhân bị dọa đến bật ngồi dậy, hai mắt sáng quắc, dường như chỉ trong chớp mắt đã khỏi bệnh được hơn nửa.
Bà hạ thấp giọng hỏi: “Nghe nói con đang biên soạn họa tập?”
Đề tài chuyển quá nhanh, nàng gật đầu: “A Hoàn nói, dù sao cũng đang thủ hiếu, đi đâu cũng không tiện, nên muốn giúp con dâu chỉnh lý tranh vẽ, biên thành tập. Để đồ đệ sao chép mấy bản, cất giữ hoặc tặng bằng hữu, có lẽ còn có thể lưu truyền lại.”
Bùi lão phu nhân nắm chặt ống tay áo nàng: “Họa tập đề tên ai?”
Nàng chưa từng nghĩ tới chuyện này, sững người: “Vâng?”
Trong mắt Bùi lão phu nhân bắn ra ánh sáng bức người: “Không được viết ‘Liễu thị Bùi môn’, phải viết tên của chính con, biết chưa? Không được viết Liễu thị, Liễu phu nhân gì hết, phải viết tên, biết chưa?”
Bà ngồi xếp bằng, tinh thần phấn chấn hẳn lên: “Hai chữ Trinh Nương này vẫn chưa đủ khí phách. A Hoàn làm vợ chồng với con hơn hai mươi năm mà chẳng đặt cho con lấy một chữ hay một hiệu nào, đúng là đầu óc heo, kém xa Nhược Trạm!”
Nàng mơ hồ: “Ồ, được được. Nhưng tên của phu quân cũng nên viết vào chứ. Những năm qua đều là A Hoàn dẫn con bái phỏng các danh sư tiền bối, đưa con du lịch tứ phương. Con mở rộng tầm mắt, tinh tiến họa nghệ, không có A Hoàn thì cũng không có con của hôm nay.”
Bùi lão phu nhân xua tay như đuổi muỗi: “Vậy thì viết sau tên con là được.”
Nàng có phần thờ ơ: “Thực ra con dâu cũng không để ý mấy chuyện này.”
Bùi lão phu nhân đột nhiên nổi giận: “Con không thể không để ý! A Hoàn vừa sinh ra tên đã được ghi vào gia phả, nhưng muội muội nó là A Ánh thì không! Bây giờ con có thể để lại tên tuổi, sao con lại không để ý! Bất kể sau này có truyền được hay không, trên họa tập, chỗ nào có thể viết tên thì đều phải viết tên con, tuyệt đối không để người khác cướp đi công lao, tài hoa và tâm huyết cả đời của con, nghe rõ chưa?!”
Nàng bị dọa cho không nhẹ, vội vàng gật đầu lia lịa: “Vâng, con biết rồi biết rồi, con dâu nhất định làm theo.”
Bùi lão phu nhân nguôi giận đôi chút: “Còn nữa, sau này không được nói mấy lời như chặt tay, cẩn thận Bồ Tát trách phạt! Con mới hơn bốn mươi thôi, ngày tháng sau này còn dài. Ta xem trong sách ghi chép, những danh sư đại gia gì đó đều phải đến sáu bảy mươi tuổi mới nổi danh thiên hạ, thu nhận môn đồ rộng rãi, con bây giờ mới đến đâu chứ!”
Nàng lí nhí: “Mẹ, họa phái của con dâu rất kén người mà…”
Bùi lão phu nhân lại hỏi: “Con từng đến Úy Đầu Châu chưa?”
Tư duy của bà chuyển quá nhanh, nàng có phần không theo kịp: “Gì cơ? Ở đâu ạ?”
Bùi lão phu nhân rất đắc ý: “Ngay cả Úy Đầu Châu mà con còn chưa đi qua, sao đã dám nói mình không còn gì tiếc nuối. Chậc chậc chậc, cái gọi là mãn chiêu tổn, khiêm thụ ích (*), ta thấy con là tự mãn rồi.”
Nàng tò mò: “Úy Đầu Châu ở đâu ạ?”
Bùi lão phu nhân mỉm cười nhẹ: “Thực ra ta cũng không biết. Là trong thư của Nhược Trạm nhắc tới, hình như ở vùng Ba Sở gì đó, nói là phong quang tuyệt mỹ, sau này nó muốn tới xem. Ta thì già rồi, đi không nổi. Đợi con mãn tang, cứ để A Hoàn đưa con đi, vẽ lại cho ta xem.”
Nàng cười lên: “Vâng.”
–
Nàng tên là Liễu Trinh Nương, đứng không đổi tên, ngồi không đổi họ, cứ lấy thân phận nữ tử mà truyền danh hậu thế. Người đời đều nói nàng là tài nữ hiếm có, còn nàng lại cảm thấy mình chỉ là gặp may.
Nàng sinh vào thời thái bình thịnh trị, quốc thái dân an, bách tính có dư tiền mua tranh thưởng họa; gia cảnh nàng so trên thì kém, so dưới thì hơn; thuở nhỏ gặp được một vị ân sư không quản nhọc nhằn, dốc lòng truyền dạy, mở cho nàng cánh cửa bước vào một thế giới khác; thiếu niên gặp được Tiết Anh, một bằng hữu lương thiện hiếm có, giúp nàng mở rộng tầm mắt; đến tuổi thanh niên lại gả cho Bùi Hoàn, một lang quân biết thưởng thức, biết thấu hiểu nàng.
Trong thế đạo đã định hình nghìn năm này, số phận nữ tử mong manh vô cùng. Chuỗi trải nghiệm ấy, chỉ cần một khâu xảy ra sai lầm, Trinh Nương đã không thể trở thành con người của về sau.
May mắn thay, nàng đủ may mắn.
Chú thích:
(*) Tự mãn chiêu mời tai họa, khiêm tốn thì được hưởng lợi
Tác giả có lời muốn nói:
Họa phái này là do tôi hư cấu, nhưng tôi cho rằng nó vẫn có logic.
–
Khác với triều Tống đề cao sự nhã đạm, triều Đường cực kỳ sùng thượng sắc màu. Gốm sứ là Đường tam thái, váy áo phải may xen kẽ màu sắc, các loại kỹ thuật dệt nhuộm rực rỡ thịnh hành một thời. Trang điểm của phụ nữ cũng thiên về đậm nét: trang vết cào, mày chàm đậm, dán hoa điền đủ chất liệu, son môi chu đỏ, phấn má dày cùng hoàng phấn trên trán.
Nhớ có lần phát hiện mộ táng của một công chúa đời Đường, trong đồ tùy táng có cả mỹ phẩm, từ phấn son đến bút kẻ mày, màu sắc rực rỡ đến kinh người.
–
Vì vậy tôi cho rằng người đời Đường ưa thích tranh dùng dầu màu sắc tươi sáng cũng là chuyện rất bình thường. Dù xét về chủ lưu, văn nhân nước ta vẫn yêu chuộng tranh thủy mặc hơn cả.
GIÓ MƯA – CHƯƠNG 34 – PHẦN 4
Chương 34: Ngọn nguồn loạn Lữ Xuyên (10)
*
Thu ý dần đậm, cỏ cây thưa thoáng. Cái lạnh lúc này chưa thể gọi là rét, trái lại còn phảng phất mấy phần ấm áp do ánh nắng thấm vào, tựa như tấm lụa tơ bị vò giặt đến mềm mại, ánh lên vẻ lười nhác nhàn nhạt. Các cung nga đã thay sang y phục thu mềm nhẹ, vừa đi dạo giữa hoa cỏ vừa khe khẽ nói cười, trân trọng những ngày thư thái cuối cùng trước khi đông về.
Trong Quan Phong Điện.
Nữ hoàng từ trên xuống dưới đánh giá Lư Hội, mỉm cười nói: “Về nhà tốt lắm. Đi một chuyến về nhà, vừa cao thêm, vừa có da có thịt, sắc mặt lại hồng hào, trẫm ban cho ngươi bao nhiêu thưởng cũng chẳng bằng hiệu quả ấy. Chân đã khỏi hẳn chưa? Người nhà đều bình an cả chứ?”
Lư Hội cười rạng rỡ: “Tạ bệ hạ quan tâm. Vi thần đã lành hẳn rồi, gia phụ gia mẫu cùng các em đều mạnh khỏe. Mẹ còn nấu cao lê mùa thu, dặn vi thần mang về, pha trà hay ngâm nước đều dùng được, lát nữa bệ hạ nếm thử xem, thanh hỏa nhuận phế lắm.”
Nữ hoàng cố ý nói: “Nghe nói ngươi mang đi biếu một vòng, cuối cùng mới dâng lên trẫm?”
Lư Hội vội biện giải: “Không phải vi thần chậm trễ bệ hạ, là vi thần sợ không hợp khẩu vị của bệ hạ, nên đưa cho Đoan Mộc đại nhân và Cù đại giám nếm trước, bọn họ đều khen ngon, vi thần mới dám dâng lên trước mặt bệ hạ!”
Nữ hoàng nghiêng người tựa vào hồ sàng, khẽ cười ha hả: “Hội nương trở về, trẫm rất vui. Nhìn ngươi, trẫm như trông thấy ruộng bờ, khe suối, những người đàn bà trồng dâu nuôi tằm, những nông phu vung liềm cuốc, tiếng cười hoang dã phóng khoáng — tất thảy đều sinh động đến thế, thật tốt. Huệ nhi rất giỏi, Cù Tùng Phong cũng trung thành, nhưng bọn họ giống trẫm, trên người đều nặng mùi cung cấm.”
Lư Hội nhìn ra ngoài cửa sổ tràn ngập thu ý: “Bệ hạ ngày ngày vì quốc sự lao tâm, nếu có thể tranh thủ ra ngoài dạo một chuyến thì hay biết mấy.”
“Trẫm không có hứng ấy.” Nữ hoàng vẫn uể oải, “Hội nương nói cho trẫm nghe xem, mấy tháng bình loạn vừa qua, dân gian phố chợ cùng thôn dã đều bàn tán trẫm ra sao?”
Lư Hội rụt cổ, giả ngây nói: “Đều nói Đường tướng công sắp khải hoàn hồi triều, bách tính khen bệ hạ biết dùng người.”
Nữ hoàng thở dài: “Điều hay thì khỏi nói, nhặt mấy lời khó nghe mà nói đi, trẫm sẽ không giận cá chém thớt ngươi đâu.”
Lư Hội: “…Vi thần có nghe người ta nghị luận, nói cùng là tai họa tuyết tai, bách tính Hà Bắc có Đường tướng công vỗ về thì yên ổn, còn Lữ Xuyên lại náo loạn đến vậy, đều do Sầm Văn Tu gây họa.”
Nữ hoàng: “Ừm, nói tiếp.”
Lư Hội cúi đầu: “Trước có Sư Huyền Khang toàn quân bị diệt, sau có Tiêu Thế Công tinh nhuệ tổn thất sạch, triều đình vì sao lại mạo muội phát binh, vì sao không dùng những tướng lĩnh giỏi hơn, uổng chết bao nhiêu người…”
Nữ hoàng gật đầu: “Còn nữa.”
Lư Hội có phần run sợ: “Còn lại đều là mấy lời nhàn đàm không đáng nghe, chỉ là từ khi Đường tướng công liên tiếp truyền về tin tốt, trong dân gian vẫn ca tụng bệ hạ là nhiều.”
Nữ hoàng khẽ nhếch khóe môi: “Những ‘lời nhàn đàm không đáng nghe’ ấy, có phải nói trẫm vô năng, rằng khi Văn Đức hoàng đế cùng tiên đế tại vị, bản triều quân công hiển hách thế nào, uy chấn bốn phương, còn trẫm rốt cuộc chỉ là phận nữ lưu vân vân?”
Mắt Lư Hội tròn xoe: “Bệ hạ vậy mà không giận ư? Khí lượng của bệ hạ cũng lớn quá rồi!”
Vẻ mặt thiếu nữ vừa kính phục vừa kinh ngạc lại có chút bất bình ấy khiến Nữ hoàng rất vừa lòng.
Nữ hoàng cười nói: “Làm chủ ba năm chó cũng ghét, huống chi lần bình loạn này khởi đầu liên tiếp bại trận, tổn thất đều là những trai tráng lương thiện cả, ai chẳng đau lòng. Oán trách đôi câu thì cứ oán trách, chẳng có gì to tát.”
Bà thấy trong đáy mắt thiếu nữ lấp lánh vẻ tò mò rụt rè, lại hỏi: “Ngươi có phải muốn biết, những ngày qua trẫm có từng tự kiểm điểm hay không?”
Lư Hội cười ngây ngô hai tiếng.
Nữ hoàng thản nhiên nói: “Không. Trị quốc lý chính thế nào, dùng người điểm tướng ra sao, trẫm tự có đạo lý của trẫm. Triều thần cũng được, bách tính cũng vậy, trẫm không cần giải thích với họ, càng không cần tự kiểm điểm.”
Thấy môi thiếu nữ mấp máy, Nữ hoàng bật cười: “Hội nương, hôm nay trẫm dạy ngươi một câu, vĩnh viễn đừng ôm hết tội lỗi về mình. Nào, nói lại cho trẫm nghe.”
Lư Hội lắp bắp: “Vĩnh, vĩnh viễn đừng ôm hết tội lỗi về mình. Nhưng… nhưng nếu thật sự là lỗi của mình thì sao ạ?”
Nữ hoàng vẫy tay, bảo thiếu nữ ghé lại gần mình.
Giọng bà rất khẽ, nhưng đầy sức mê hoặc: “Dù ngươi có sai, tự mình biết trong lòng là được, đừng nói ra. Bởi thế đạo này đã quá thích đổ tội lên người nữ tử rồi. Thân là nữ tử, bản thân không cần tự thêm củi vào lửa.”
Lư Hội sững sờ. Đây là thứ ‘đạo lý lệch lạc’ duy nhất cô từng nghe trong đời, hoàn toàn khác với những điều sách vở nói, những điều gia phụ gia mẫu dạy.
Nhưng… dường như lại có đôi phần đúng.
Cha mẹ cô dĩ nhiên là vợ chồng ân ái, kính trọng yêu thương nhau, không phân bỉ thử, nhưng từ thuở nhỏ cô chứng kiến nơi phố chợ thôn quê, chuyện thảm bất công với nữ tử cũng chẳng hiếm.
Nữ hoàng lười nhác tựa ra sau: “Từ thời Tam Hoàng Ngũ Đế đến nay, chuyện thây chất thành núi, máu chảy thành sông, đổi con mà ăn nhiều vô kể; không có Nữ hoàng đế thì người ta lôi lỗi hậu cung ra mà đổ. Thời Hán, Vũ Đế làm dân mệt của kiệt, sinh linh điêu linh, cuối cùng cũng chỉ viết một đạo ‘Luân Đài chiếu’ cho có lệ, trẫm mới đến đâu chứ.”
Lư Hội lại cúi đầu, khẽ nói: “Vi thần vẫn cảm thấy trong lòng bệ hạ không được thư thái, nếu không với thu quang đẹp thế này, bệ hạ hẳn đã ra ngoài dạo rồi.”
Trong mắt Nữ hoàng thoáng hiện mấy phần buồn bã: “Hiếm lắm, nay còn có người nhớ đến trẫm có thư thái hay không.”
Bà chỉ về phía án kỷ chất đầy quyển trục và tấu chương bên cạnh: “Ở đó, bên trái quyển thứ hai, ngươi xem đi.”
Lư Hội làm theo, mở trục ra xem, rồi lộ ra vẻ ‘kinh ngạc đúng mực’, kêu lên: “Trời đất ơi! Dĩnh Xuyên quận vương là bị thích sát mà chết ư? Bên ngoài chẳng phải đều nói là đột tử sao?”
Nữ hoàng lạnh giọng nói: “Một quận vương dẫn binh xuất chinh, một trận chưa đánh, ba ngày hai bận chạy ra ngoài săn bắn, rồi bị kẻ thù thừa lúc sơ hở đâm chết — nói ra có hay ho gì không?”
Lư Hội lật đi lật lại quyển trục: “Bệ hạ sao biết là do kẻ thù của quận vương gây ra? Trên này chỉ viết tình trạng tử vong của quận vương, những thứ khác đều không ghi. Chẳng lẽ Ngụy Quốc phu nhân đã tra ra được gì rồi?” Trần Lan Nhược và Bùi Thứ Chi lẽ ra không để lại dấu vết mới phải.
“Không cần tra trẫm cũng biết.” Nữ hoàng cười lạnh một tiếng. “Chử Duy Cẩn bị một thanh đại đao lưng rộng chém ngang eo mà chết, kẻ dùng đao là cao thủ, nội lực thâm hậu, phát kình chuẩn xác. Những người khác chết cùng một thanh đao ấy đều là một nhát mất mạng, vết thương gọn ghẽ dứt khoát, chỉ riêng Dĩnh Xuyên quận vương thì…”
“Rõ ràng có thể một đao chém ngang eo, lại chỉ chém dở chừng. Khiến Chử Duy Cẩn gãy xương vỡ bụng, sống sượng kêu gào đau đớn suốt hơn một canh giờ mới断气. Oán độc đến mức ấy, không phải thù gia tìm đến báo thù thì là gì?!”
Trong lòng Lư Hội kinh hãi tột độ. Khi ấy cô còn tưởng Trần Lan Nhược trọng thương mệt mỏi nên chém lệch, nào ngờ lại có dụng ý tàn nhẫn đến thế.
Cô có chút hoảng hốt: “Hóa ra là vậy.”
Ánh mắt Nữ hoàng u ám: “Trẫm không chỉ biết là báo thù, còn biết kẻ thù là ai.”
Lư Hội sợ đến đổi giọng: “Là ai?”
Không phải chứ, không phải chứ!
“Ngươi từng nghe cái tên Trần Lệnh Tắc chưa?” Nữ hoàng chậm rãi đứng dậy. Lư Hội vội tiến lên hầu hạ bà xỏ đôi hài lụa mềm. “Vi thần nghe loáng thoáng, dường như là một vị tướng lĩnh.”
Hai chân Nữ hoàng giẫm lên tấm thảm Ba Tư hoa lệ: “Thanh đại đao lưng rộng giết Chử Duy Cẩn, vốn nên là một thanh trảm mã đao, đó là võ nghệ gia truyền của Trần Lệnh Tắc. Trảm mã đao dài chín thước, nặng mười lăm cân, hắn có thể dùng một tay.”
Thần sắc bà vừa nghiêm nghị vừa phảng phất hoài niệm: “Năm ấy, Vương Muội dẫn hắn tiến cử trước mặt trẫm, con tuấn mã cao lớn hoảng loạn phi như bay lao tới, Trần Lệnh Tắc mỉm cười nghênh đón, một đao liền chém rơi đầu ngựa, trong khoảnh khắc máu bắn tung tóe, cái đầu ngựa to lớn nện vỡ cả tán che long cốt đúc bằng tinh đồng. Sắc bén, dũng mãnh, ấy là tuyệt kỹ duy nhất trẫm từng thấy trong đời.”
Lư Hội nín thở: “Lợi hại đến thế ư…”
“Đáng tiếc, hắn trung thành tuyệt đối với Vương Muội, nên không thể không chết. Con cháu họ Trần phần nhiều hào dũng, cũng phải chết.” Thần sắc Nữ hoàng lạnh nhạt, mấy câu đã quyết định sự diệt vong của cả một gia tộc công huân.
Lư Hội cẩn thận dò hỏi: “Chẳng lẽ con cháu họ Trần không chết sạch?” Trần Lan Nhược sẽ không lộ tẩy đấy chứ.
“Đại khái còn cá lọt lưới.” Nữ hoàng chẳng mấy để tâm. “Chử Duy Cẩn hoàn toàn có thể công tư phân minh, đem mọi oán trách đổ hết lên người trẫm, hắn lại cố tình tạo nghiệt, giày xéo phụ nữ trẻ con nhà họ Trần, chết cũng chẳng đáng tiếc.”
Bà từ bên chiếc ẩn nang thêu tơ lấy ra một cuộn giấy mỏng: “Hội nương, ngươi xem cái này.”
Lư Hội vừa nhìn hoa văn ép bạc trên giấy đã biết là mật báo của Ngụy Quốc phu nhân, do dự nói: “Cái này… e là không ổn.”
Nữ hoàng ném cuộn giấy cho cô, đứng dậy đi lại: “Bảo ngươi xem thì cứ xem, dù sao qua hai ngày nữa ai ai cũng biết.”
Lư Hội mở ra xem, lập tức trợn tròn mắt, thất thanh kêu lên: “Lương Vương mạo muội xuất binh, rơi vào cạm bẫy của Vạn Đại Vinh, tổn binh hao tướng, trọng thương hôn mê, Bành Thành quận vương thất thủ bị bắt?! Cái này cái này… rốt cuộc là chuyện gì vậy!”
Lần này cô thật sự kinh ngạc, không hề giả vờ.
Nữ hoàng đi mấy bước trên thảm: “Yên tâm, đồ ngu chưa dễ chết thế đâu. Đọc tiếp đi.”
Lư Hội đọc xong phần mật báo còn lại, thở phào một hơi thật dài: “Ồ, Lương Vương đã tỉnh lại rồi, Bành Thành quận vương cũng được cứu về, ờ… chỉ là chịu chút nhục nhã. Có một tiểu thủ lĩnh Khiết Đan tên là Gia Luật Mạc Hột tập kích tàn quân của Vạn Đại Vinh, không những cứu được Bành Thành quận vương, còn chém đầu Vạn Đại Vinh mang về triều đình xin hàng.”
Cô lau mồ hôi lạnh: “Bệ hạ, đây là chuyện tốt mà. Chúc mừng bệ hạ, phản loạn cuối cùng cũng đã bình định!”
“Chuyện tốt? Ha ha!” Nữ hoàng chắp tay sau lưng. “Đám con cháu của trẫm, dẫu có ngu xuẩn như heo, nhiều lắm cũng chỉ là bỏ giáp tháo chạy, thua tan tác mà thôi. Vạn tặc sớm chiều khó giữ mạng, tham sống sợ chết còn chẳng dễ, vậy mà trong thế ít địch nhiều lại có thể làm bị thương chủ soái một quân. Huống chi bên cạnh Khánh Nghĩa hộ vệ trùng trùng, vậy mà lại để người ta bắt sống mang đi.”
Bà liên tiếp cười lạnh: “Trận đại bại này là thua cho trẫm xem, cũng là thua cho thiên hạ xem. Để mọi người nhìn rõ con cháu Chử thị bất kham đến mức nào, không xứng với long ỷ ra sao!”
Lư Hội vội lớn tiếng nói: “Đường tướng công đối với bệ hạ trung thành không hai, trời đất chứng giám, tuyệt đối không thể âm thầm tính toán Lương Vương!”
Nữ hoàng giơ tay phẩy phẩy: “Trẫm chưa từng đánh trận, nhưng cũng biết chút binh pháp. Binh quyền một khi đã giao ra, sau đó đánh thế nào, trẫm tuyệt không chỉ trỏ can thiệp. Nhưng Đường Nghĩa Phương hẳn phải hiểu tâm ý của trẫm chứ, dẫu có ngu xuẩn đến đâu, cũng là tộc nhân của trẫm, thế nào cũng không thể để họ mất mặt quá mức.”
Bà nện mạnh một quyền lên án kỷ: “Từ lúc Lương Vương phát binh đến khi Khánh Nghĩa bị bắt, trước sau đủ bảy tám ngày, không một ai cảnh báo, không một ai cứu viện. Cả một tòa U Châu thành rộng lớn, trên dưới mấy vạn tướng sĩ, văn võ quan lại, cứ thế lạnh lùng đứng nhìn, nhìn con cháu Chử thị đi chịu chết, đi mất mặt, ha ha ha…”
Tiếng cười của Nữ hoàng lạnh lẽo mà phẫn hận. Trò chuyện nhàn nhã nửa ngày, đến lúc này bà mới để lộ nút thắt thật sự trong lòng.
“Trẫm tin Đường Nghĩa Phương không dính dáng trong đó. Nếu là đám thuộc hạ dưới tay ông ta đồng lòng đùn đẩy, che giấu, dẫn đến khi sự việc bại lộ, ông ta cũng hết cách. Còn trẫm, cũng chỉ có thể giả vờ không biết.”
Nữ hoàng bước tới bên bệ cửa sổ. Trong ánh nắng lấp lánh hương quế vàng, vẻ già nua của bà càng lộ rõ.
“Thuở trẻ trẫm còn lấy làm lạ, Văn Đức hoàng đế anh minh như thần, sao đến cuối đời cũng mê tín đan dược phương sĩ. Nay mới hiểu, cửa ải này, dẫu anh danh cái thế cũng không tránh khỏi.”
Nữ hoàng thẫn thờ nhìn về phương xa: “Hội nương à, trẫm không phải hôn quân nhu nhược, cũng không phải vì thân là nữ tử mà lực bất tòng tâm, mà là trẫm già rồi. Già rồi, thì không còn đè nổi lòng người đang âm thầm xao động nữa.”
Bà quay đầu cười sảng khoái: “Hội nương mà đến sớm hơn hai mươi năm thì tốt biết bao, trẫm nhất định dạy ngươi đánh kích cúc.”
Lư Hội ngẩng đầu, thật lâu sau vẫn lặng lẽ nhìn Nữ hoàng sừng sững giữa thu quang.
–
Ra ngoài, Lư Hội cúi đầu thong thả dạo đến Cửu Châu cung uyển, một mình ngồi lặng trong Bích Ngọc Đình, Nữ hoàng tựa như một con phượng hoàng kiêu hãnh, cũng từng có những năm tháng tráng kiện hung mãnh, oanh liệt rực rỡ, vậy mà nay đã tuổi xế chiều, nghĩ đến thật đáng buồn biết bao.
“Lư tư trực lại gặp khó xử gì sao?”
Giọng nói quen thuộc vang lên. Lư Hội vội ngẩng đầu đứng dậy, thấy Ngụy Quốc phu nhân khoác áo choàng che mặt bằng sa đen cùng lão bộc bên cạnh, liền cuống quýt hành lễ: “Tham kiến Ngụy Quốc phu nhân, thỉnh an phu nhân, thỉnh an Tuế bà bà.”
Tuế nương khẽ cười: “Mùa thu dễ nhiễm lạnh, Lư tiểu nương tử đừng ngồi ngoài này lâu quá. Có gặp chuyện buồn lòng ư?”
Lư Hội liên tục lắc đầu: “Không không! Tôi vừa từ Quan Phong Điện ra, bệ hạ không cần tôi hầu nữa. Còn non nửa canh giờ mới đến lúc tan trực, tôi ở đây đợi…”
Mặt cô đỏ lên, tựa như một tiểu lại trộm lười, không chăm chỉ làm việc mà lại ngồi không chờ về nhà.
“Không có việc gì là tốt rồi.” Ngụy Quốc phu nhân nói xong liền định rời đi.
Lư Hội vội nói: “Phu nhân xin dừng bước!” Cô nhanh tay dâng chiếc giỏ tre, “Phu nhân đối với ti chức nhiều phen chiếu cố, ti chức không biết lấy gì báo đáp. Đây là cao lê mùa thu do gia mẫu nấu, thanh hỏa nhuận phế, ăn thế nào cũng được.”
Ngụy Quốc phu nhân quay người lại, không nói gì.
Vẫn là Tuế nương tiến lên nhận lấy giỏ tre, cười nói: “Đa tạ Lư nương tử.” Bà mở giỏ, nâng ra hai hũ sứ nhỏ, “Ôi chao, nặng tay thật, làm không ít đâu.”
Lư Hội lấy hết dũng khí: “Cái hũ sứ trắng là cao lê do mẹ ta nấu, còn hũ sứ màu xanh là… là ta nấu… Tôi làm không khéo, nhưng mẹ nói, cảm tạ người khác thì phải tự tay làm mới có thành ý.”
Tuế nương cầm hũ sứ xanh ngắm trái ngắm phải, mặt cười nở hoa: “Lư tiểu nương tử thật khéo tay, lại hiếu thuận nhân hậu, bảo sao được người ta yêu mến…”
Ngụy Quốc phu nhân cắt lời: “Cô tạ ta chuyện gì?”
— Chẳng lẽ là chuyện người giúp tôi giả vờ gãy chân để trốn khỏi cung?
Trong lòng Lư Hội nghĩ thầm chuyện này không thể nói ra, nói ra chính là tội khi quân, liền ánh mắt lảng tránh, ấp a ấp úng: “Ti chức cũng… hình như… không rõ lắm, thôi thì cứ tạ trước đã, lễ nhiều không trách.”
Lớp sa che mặt của Ngụy Quốc phu nhân khẽ lay động, Lư Hội mơ hồ cảm thấy phu nhân dường như mỉm cười.
Ngụy Quốc phu nhân bỗng nói: “Vừa rồi Lư tư trực cùng bệ hạ trò chuyện khá lâu nhỉ. Bệ hạ tuổi đã cao, gặp chuyện dễ sinh cảm hoài; Lư tư trực thì thanh xuân đang độ, tiền đồ sáng sủa. Lời của bệ hạ nghe qua là được, đừng để trong lòng, kẻo làm đổi cả tính tình thì không hay.”
Lư Hội ngẩn người, thân là tâm phúc số một của Nữ hoàng, Ngụy Quốc phu nhân lại khuyên cô để lời Nữ hoàng tai trái lọt tai phải ư?
Cô không thấy được thần sắc của Ngụy Quốc phu nhân, nhưng mơ hồ cảm nhận được sau tấm sa kia hẳn là một gương mặt đầy quan tâm.
–
Ngoài thành U Châu không xa, trong soái trướng của đại quân đóng trú.
Bốp! Một chiếc nghiên mực bị ném đi, nện mạnh lên trán một võ tướng, máu nơi khóe trán lập tức chảy ròng ròng.
“Lệ Bảo Quốc, ngươi to gan thật, to gan thật!” Đường Nghĩa Phương khoác giáp soái, tức đến mặt mày tái xanh, thân thể khẽ run, “Ngươi dám cấu kết ngoại tặc, đây là… là phản quốc!”
“Đã biết không giấu nổi tướng công.” Lệ Bảo Quốc cũng chẳng buồn lau máu trên trán, mặc cho nó chảy loang lổ trên mặt.
“Ti chức không dám giấu giếm tướng công. Đúng vậy, chính ti chức âm thầm truyền tin cho Vạn Đại Vinh, báo cho ông ta biết Lương Vương sắp dẫn quân tới đánh, cũng chính ti chức che giấu tin Vạn Đại Vinh bố trí mai phục trong sơn cốc, mặc cho Lương Vương xông vào ổ phục kích. Tướng công muốn giết muốn chém, cứ nhằm vào ti chức, không can hệ đến người khác.”
Đường Nghĩa Phương giận dữ quát: “Ngươi cho rằng bản tướng không… không dám giết ngươi sao?!”
Mấy vị tướng lĩnh xung quanh đồng loạt quỳ xuống xin tha.
“Lương Vương trước khi phát binh căn bản không hề bàn bạc với chúng ta, sao có thể đổ tội lên đầu chúng ta!”
“Nếu không phải chư vương Chử thị muốn tranh công, chuyện này đã chẳng xảy ra!”
“Họ quen thói ngang ngược, chỉ muốn xuống núi hái đào, tất cả đều là tự làm tự chịu!”
“Xin tướng công khai ân!”
Đường Nghĩa Phương gầm lên một tiếng: “Tất cả câm miệng cho ta, cút ra ngoài!”
Các tướng lĩnh do dự chốc lát, nhưng khiếp uy thế của thượng phong, rốt cuộc vẫn lần lượt rời khỏi soái trướng.
Đường Nghĩa Phương nhìn chằm chằm kẻ đang quỳ dưới đất: “Chuyện này một mình ngươi… không làm nổi, cũng không thể giấu được nhiều… đồng liêu như vậy. Nói thật cho bản tướng, bản tướng sẽ… sẽ giữ cho ngươi một mạng.”
Lệ Bảo Quốc cười thảm: “Việc này chỉ có một mình ti chức. Tướng công muốn giết thì cứ giết một mình ti chức là đủ.”
Đường Nghĩa Phương nói: “Ngươi định ngoan cố, cứng đầu đến cùng sao?”
Lệ Bảo Quốc ngẩng đầu lên: “Năm xưa ti chức bị Lệ Quốc Trung hãm hại, không nơi dung thân. Tướng công tiếc nhân tài, tiến cử ti chức đầu quân dưới trướng Hạ Nhược Đại Phụ. Nào ngờ Hạ Nhược Đại Phụ chẳng bao lâu sau đã chết dưới cực hình, ti chức đành phiêu bạt sang Nam Nha Thập Lục Vệ. Khi ấy, anh em Chử thị nắm quyền vừa vô năng lại vừa ti tiện, công lao thì cướp sạch, lỗi lầm đều đổ hết xuống kẻ dưới.”
“Có một lần, một vị quốc công họ Chử chỉ huy bất lực, gây ra doanh khiếu. Lương Vương vung bút một cái, liền bắt ti chức cùng mấy đồng liêu làm dê thế tội cho ông ta, phán lưu đày ba năm. Ti chức ở Trung Nguyên không thân thích, không người che chở, đến khi trở về mới hay mẹ già cùng con thơ đã chết đói, thê tử phải tự bán mình vào tiện tịch. Gia đình ti chức tan nhà nát cửa, tất cả đều do Chử thị gây ra!”
Nói đến đoạn cuối, nước mắt hắn tuôn rơi như mưa.
Đường Nghĩa Phương lộ vẻ áy náy: “Là ta không trông nom chu toàn… người nhà của ngươi.”
Lệ Bảo Quốc lắc đầu: “Khi đó Đường tướng công bị gian quan Kiều Hữu Chí dòm ngó, bản thân còn khó giữ. Vừa thoát thân liền lập tức giúp ti chức chuộc lại thê tử, ti chức đã cảm kích vô cùng, sao còn dám trách tướng công.”
Hắn cười đầy mỉa mai: “Lần bình loạn này, Lương Vương và ti chức mấy lần chạm mặt trong thành U Châu, ông ta vậy mà không nhận ra ti chức. Thật nực cười! Đại họa ngập trời của cả nhà ti chức, kẻ khởi xướng lại hoàn toàn không hay biết.”
“Ti chức từng đọc trong sách một câu, ‘kẻ thất phu nổi giận, máu bắn năm bước’. Lần này có thể mượn tay phản tặc mà hung hăng làm nhục phụ tử Lương Vương, ti chức chết cũng cam lòng. Nay ti chức cô thân một mình, không còn vướng bận, xin tướng công chỉ trách phạt một mình ti chức, chớ liên lụy các đồng liêu khác.”
Nói xong, hắn dập đầu thật mạnh, tiếng “thình thình” vang lên khiến người ta rợn tóc gáy, mặt đất rất nhanh đã loang ra một vệt máu sẫm đỏ.
Đường Nghĩa Phương lảo đảo lùi lại mấy bước.
–
Phượng Lâm năm thứ mười lăm, cuối tháng mười, Đường Nghĩa Phương khải hoàn hồi triều.
Dân chúng đứng kín hai bên đường nghênh đón, trong chốc lát Thần Đô thành trống chiêng vang dậy, tiếng hoan hô như sấm. Để quét sạch bầu không khí ảm đạm nửa năm qua, triều đình hạ lệnh ăn mừng suốt ba ngày ba đêm, tạm thời nới lỏng giới nghiêm ban đêm.
Trước yến tiệc khánh công, Nữ hoàng đặc biệt triệu kiến chư vị công thần tham gia bình loạn lần này.
Lư Hội đích thân ra khỏi điện dẫn đường, phía sau cô là một đoàn người chậm rãi tiến về Phượng Nghi Điện.
Đường Nghĩa Phương cùng Lương Vương đi đầu, tiếp đến là U Châu thứ sử Phùng Chí Kiệt, phía sau nữa là bảy tám vị võ tướng và một đại hán vạm vỡ mặc trang phục Hồ tộc, cuối cùng là đám chư vương Chử thị đang cúi đầu ủ rũ.
Vết thương cũ của Lương Vương chưa lành, sắc mặt tái nhợt, bả vai quấn mấy vòng băng vải, cánh tay trái mềm oặt treo trước ngực.
Đường Nghĩa Phương thần sắc u ám, cúi đầu không nói. Thân là người lập công đầu trong lần bình loạn này, sắc mặt ông vậy mà còn khó coi hơn cả Chử Thừa Cẩn trọng thương.
Trái lại, U Châu thứ sử Phùng Chí Kiệt thì dung quang rạng rỡ, từ chỗ suýt thành người tuẫn quốc khi thành vỡ, đến nay lại thành công thần bình loạn, trải qua của Phùng thứ sử quả đáng ghi một nét đậm. Dựa vào công lao lần này, nếu vận khí tốt, hắn có thể nhập các bái tướng; vận khí thường cũng đổi được một châu quận giàu có ở Trung Nguyên để tiếp tục làm thứ sử. Nghĩ tới đó, hắn càng cười không ngớt.
Ở một góc không ai để ý, khóe môi Bùi Thứ Chi nhếch lên một nụ cười lạnh, nhìn Đường Nghĩa Phương và Chử Thừa Cẩn phía trước đã bước vào Phượng Nghi Điện. Chàng quay sang người bên cạnh, nói: “Đi trút giận đi.”
Lệ Kính Tuyên cười lạnh: “Yên tâm, ta sẽ không nương tay.” Nói xong, y liền sải bước tiến ra.
“Ôi chao, đây chẳng phải là Bành Thành quận vương khải hoàn trở về đó sao!” Y cao giọng gọi, ánh mắt giễu cợt đánh giá Chử Khánh Nghĩa đang uể oải rã rời, rồi lập tức mắng xối xả, “Đồ mất mặt xấu hổ!”
Chử Khánh Nghĩa đỏ bừng mặt: “Ngươi nói ai đấy?!”
Lệ Kính Tuyên chỉ thẳng vào mũi hắn mà mắng: “Ta nói ngươi, cái thứ không biết xấu hổ!”
Sắc mặt Chử Khánh Nghĩa đỏ như máu: “Thắng bại là chuyện thường của binh gia, ít nhất ta còn ra trận giết địch, hơn hẳn cái thứ phong lưu trụy lạc như ngươi, suốt ngày trốn trong kỹ viện Thần Đô! Hạng phế vật như ngươi cũng xứng chỉ trích ta ư?!”
Lệ Kính Tuyên ngửa mặt cười lớn: “Ta là phong lưu trụy lạc, là phế vật, Thần Đô ai ai cũng biết, chính ta cũng biết! Đó gọi là gì, gọi là tự biết mình. Không giống có kẻ, bắn được mấy con vịt trời thỏ hoang đã tưởng mình thần dũng vô địch, có thể thống binh tác chiến rồi, ha ha ha… đúng là ngựa chẳng biết mặt dài, người chẳng biết mình xấu!”
Chử Khánh Nghĩa tức đến muốn lao tới, bị huynh trưởng Chử Khánh Ân ôm chặt ngang lưng, liều mạng ngăn lại: “Thôi đi, thôi đi.”
Lệ Kính Tuyên trước mặt mọi người mỉa mai đến cùng: “Không có bản lĩnh thì nói là không có bản lĩnh, cứ phải ra ngoài làm trò cười cho thiên hạ. Không những uổng phí lương thảo quân nhu, còn làm mất sạch thể diện triều đình! Ngươi đường đường một quận vương, lại bị giặc lột sạch quần áo, trói như con dê béo, treo cao trên cột cờ để uy hiếp triều đình, uy hiếp Đường tướng công!”
“Nếu không phải Gia Luật tộc trưởng tập kích thành công, Lương Vương đã phải ép Đường tướng công rút vòng vây thả Vạn Đại Vinh rồi! Triều đình hao tốn bao nhiêu nhân lực vật lực, chỉ vì phế vật như ngươi mà suýt nữa công cốc, ngươi còn mặt mũi nào sống tiếp?!”
Mắt Chử Khánh Nghĩa đỏ ngầu, gào thét xông tới vung quyền định đánh.
Lệ Kính Tuyên khẽ lách người, giơ chân móc một cái, Chử Khánh Nghĩa “rầm” một tiếng ngã sấp mặt xuống đất, Chử Khánh Ân cùng mấy người Chử thị khác vội vàng xông lên đỡ hắn dậy.
Phía bên kia cũng vang lên tiếng cười, chỉ thấy Lệ Kính Mỹ mặt mày hớn hở, bước nhanh tới: “Ha ha ha, đây là ai mà ngã thảm hại thế này. Ồ, thì ra là Chử Khánh Nghĩa, Chử đại tướng quân! Nghe nói tướng quân ở ngoài thành U Châu đại triển hùng phong, ta chỉ muốn hỏi một chuyện thôi…”
Giọng hắn bỗng đổi khác, nhăn mày trợn mắt: “Bọn chúng thật đã lột sạch ngươi, □□? Da thịt nõn nà như ngươi ở ngoài ải hiếm thấy, bọn man di chẳng kiêng kị gì, ngươi không chịu thiệt thòi gì đó chứ?”
Lời này còn độc địa hơn cả khi Chử Kính Tuyên vừa mắng mấy hồi, trong câu chữ lại ẩn chứa ý khinh bạc dâm tà, khiến mấy viên tướng chưa kịp vào điện đều cười khúc khích.
Chử Khánh Nghĩa xưa nay chưa từng chịu nỗi nhục nhã như thế, gào lên thê lương muốn liều mạng, bị một đám tộc nhân Chử thị sợ bị trách phạt níu tay níu chân giữ lại.
Chử Kính Mỹ cười ha hả: “Nếu thật sự có chịu thiệt, ngàn vạn lần chớ ngại ngùng không dám nói, để Hoàng tổ mẫu làm chủ cho ngươi, ha ha ha…”
Chử Khánh Nghĩa không thể nhẫn nhịn thêm, gào rú như kẻ điên mà bỏ chạy, Chử Khánh Ân liền đuổi theo.
Chử Kính Tuyên cười đến không ngớt, lấy cùi chỏ thúc vào đường huynh: “Lâu ngày không gặp, chẳng ngờ miệng lưỡi huynh lại lanh lợi đến thế, thất kính thất kính!”
Thực ra thuở nhỏ y cùng Chử Kính Mỹ vốn chẳng hòa thuận, song trước mặt tộc Chử thị thì tự nhiên thành đồng minh.
Chử Kính Mỹ cũng hiểu rõ đạo lý này, cười hì hì nói: “Hay lắm. Lần sau đệ ra ngoài du ngoạn phải mang ta theo, Thần đô có gì vui, ta đều chẳng biết.”
Chử Kính Tuyên nhe răng cười: “Chỉ cần mẫu phi huynh không xé xác ta, ta đi đâu cũng mang huynh theo.”
Cù Tùng Phong vội vàng chạy tới: “Ấy dà, hai vị Quận vương, lúc này chớ đùa nữa, bệ hạ đang chờ, mau vào thôi.”
Lăng Dương Vương theo sau, thấy chỉ có một mình Chử Kính Tuyên, liền hỏi: “Phụ vương cùng đại huynh ngươi đâu?”
Chử Kính Tuyên thở dài: “Phụ vương lại phát bệnh, kéo đại huynh lúc khóc lúc gào, bọn họ chẳng thể tới được.”
“Thật chăng? Vậy ta đi xem Tứ đệ.” Lăng Dương Vương vừa nói đã xoay người định đi.
Chử Kính Tuyên vội khoác tay ông ta: “Ôi chao, Hoàng bá phụ, người chớ chạy loạn, Hoàng tổ mẫu triệu kiến tất có việc.”
“Lời Kính Tuyên chẳng sai, phụ vương, chúng ta vào trước thôi.” Chử Kính Mỹ cũng kéo cánh tay kia của phụ thân.
Hai đường huynh kẹp lấy Lăng Dương Vương mà đi về phía Phụng Nghi Điện, Cù Tùng Phong phía sau mới thở phào.
Nơi góc tối, Bùi Thứ Chi lặng lẽ nhìn hết thảy, rồi xoay người vòng mấy bước, vừa khéo gặp Lưu Ngữ được tiểu hoàng môn dìu tới.
“Ân sư.” Chàng cung kính hành lễ.
Lưu Ngữ thở hổn hển: “Đợi lâu rồi phải không, con sức lực lớn, lại đây đỡ ta. Được rồi, vào thôi.”
Ngoài Lạc Xuyên Vương cùng Thế tử, hai huynh đệ Chử Khánh Ân, Chử Khánh Nghĩa, mọi người đều tụ tập tại tả Phượng Nghi Điện.
Nữ hoàng lần lượt ban thưởng, khen Đường Nghĩa Phương văn võ toàn tài, lập công nơi biên; khen các tướng dưới trướng vì nước vì dân, phá địch thắng trận; lại khen Thứ sử U Châu Phùng Chí Kiệt lâm nguy chẳng loạn, trung dũng đáng ca ngợi.
Cuối cùng đến lượt Gia Luật Mạc Hột, Bùi Thứ Chi đứng ngay bên cạnh, cả hai giả vờ như chẳng quen biết.
Nữ hoàng ôn tồn nói: “Gia Luật tộc trưởng chớ sợ, lại gần mà nói. Sầm Văn Tu chẳng ra gì, khiến dân tộc ngươi chịu khổ rồi.”
Gia Luật Mạc Hột òa khóc lớn: “Đa tạ bệ hạ thương xót. Dân tộc ta đời đời chịu ân triều đình, nếu chẳng bị Lê Quốc Trung lôi kéo, quyết chẳng dám sinh lòng phản nghịch! Hạ thần vốn là kẻ thô lỗ, chẳng hiểu đạo lý lớn lao. Nhưng có lời bệ hạ hôm nay, dẫu thân tan xương nát thịt, cũng phải báo đáp ân đức bệ hạ!”
Nữ hoàng nghe vậy rất hài lòng, quay sang Lưu Ngữ ngồi bên trái: “Trẫm thấy Gia Luật tộc trưởng rất tốt, Lưu tướng nghĩ sao?”
Lưu Ngữ cười ha hả: “Biết người chẳng ai hơn bệ hạ, bệ hạ làm chủ là được.”
Quân thần cùng cười vui vẻ, tựa hồ quên mất Sầm Văn Tu gây họa lớn cũng là do Nữ hoàng đề bạt.
Nữ hoàng rất vui: “Gia Luật tộc trưởng thật biết lẽ, trẫm ban cho ngươi quốc tính thì sao?”
Gia Luật Mạc Hột dập đầu thật mạnh, hớn hở lớn tiếng: “Tạ bệ hạ, hạ thần nguyện đổi tên thành Lệ Mạc Hột!”
Ngòi bút của Lư Hội khựng lại, trong khoảnh khắc, không khí trong điện đông cứng.
Nữ hoàng rõ ràng mang họ Chử, song mọi người vẫn cho rằng ‘Lệ’ mới là quốc tính, ngay cả một tiểu bộ lĩnh Hồ tộc chẳng biết chữ, cũng buột miệng nói ra như thế.
Lương Vương Chử Thừa Cẩn đúng lúc cười lạnh hai tiếng, khiến bầu không khí thêm căng thẳng.
Nữ hoàng im lặng, trong tả điện mấy chục người không ai dám thốt lời, Lăng Dương Vương đứng bên phải bà bắt đầu run rẩy.
Lưu Ngữ liếc Bùi Thứ Chi một cái, Bùi Thứ Chi bước lên thưa: “Khởi bẩm bệ hạ, Gia Luật tộc trưởng lần đầu tới Trung Nguyên, chi bằng lưu lại thêm ít ngày, ngắm phong hoa phồn thịnh nơi Thần đô, cũng để hiển lộ lòng khoan hậu nhân đức của bệ hạ.”
Nữ hoàng: “… Chuẩn tấu.”
Mọi người đồng loạt thở phào, Chử Thừa Cẩn vẫn chưa cam lòng, bước lên lạnh giọng: “Ta thấy Gia Luật tộc trưởng trong lòng chỉ có họ Lệ, lại chẳng biết nay Thánh thượng mang họ Chử!”
Gia Luật Mạc Hột vô cùng sợ hãi: “Xin bệ hạ tha tội, hạ… hạ thần quả thực không biết, không rõ, xin bệ hạ tha cho hạ thần tội chết.”
Nữ hoàng thở ra một hơi nặng nề, phất tay: “Thôi, chẳng phải việc lớn, chư ái tướng cũng đã mệt rồi…”
“Bệ hạ.” Lưu Ngữ bỗng lên tiếng, trong mắt mang theo ý khuyên can.
Nữ hoàng khép mắt lại, đứng dậy nói: “Lần bình loạn này, ngoài chư vị công thần, Lăng Dương Vương cũng có công chiêu binh trợ chiến. Lăng Dương Vương ôn cung hiếu hữu, vừa hiền vừa trưởng…”
“Cô mẫu!” Giọng Chử Thừa Cẩn run rẩy, dường như đã đoán ra điều gì, lập tức lao tới quỳ sụp bên cạnh nữ hoàng, “Cô mẫu đừng, cô mẫu xin nghĩ lại!”
Nữ hoàng không để ý đến lão, tiếp tục nói: “Trẫm quyết định…”
“Không, không được!” Chử Thừa Cẩn túm lấy vạt áo nữ hoàng, òa khóc kêu lớn, “Cô mẫu xin nghĩ lại, xin nghĩ lại. Cơ nghiệp cả đời của người, trăm năm sau chẳng lẽ lại giao vào tay người ngoài họ sao?!”
Nữ hoàng vẫn không hề lay động: “… lập hoàng tam tử Lệ Mạo làm Trữ quân.”
Chử Thừa Cẩn gào khóc thảm thiết: “Cháu sai rồi, cháu đánh thua trận, làm cô mẫu mất mặt. Xin người chậm lại, cháu nhất định sẽ lập công chuộc tội, chỉ có cháu mới cùng người một lòng một dạ thôi mà! Cô mẫu xin nghĩ lại, xin nghĩ lại…”
Cù Tùng Phong ra hiệu, bốn tiểu hoàng môn tiến lên kéo lão ra.
Nữ hoàng mặt không biểu cảm: “Nhược Trạm, khanh soạn chiếu đi, ngày mai chiêu cáo thiên hạ, tháng sau cử hành đại điển sách phong.”
Bùi Thứ Chi cúi mình: “Thần tuân chỉ.”
Lăng Dương Vương kích động “phịch” một tiếng quỳ xuống: “Nhi thần khấu tạ mẫu hoàng ân điển!”
Lệ Kính Mỹ và Lệ Kính Tuyên mừng rỡ nhìn nhau, cùng quỳ xuống khấu tạ: “Tôn nhi khấu tạ hoàng tổ mẫu ân điển!”
Lưu Ngữ vuốt râu mỉm cười: “Bệ hạ anh minh.”
Giữa những lời xưng tụng chúc mừng đan xen của mọi người, Chử thị nhất tộc bàng hoàng không biết làm sao, hoảng sợ nhìn nhau, xen lẫn trong đó là tiếng kêu gào tuyệt vọng của Chử Thừa Cẩn.
Lư Hội ôm tấm ván kẹp, nhanh tay viết bản thảo trên giấy gai vàng.
Tháng ấy, giặc đầu sỏ Vạn Đại Vinh bị xử trảm, quân phản loạn bị quét sạch, hai địa khu Tùng Mạc, Đông Di, phía bắc U Châu, tàn nghiệt bị dẹp yên, tàn binh bị thanh trừ.
Đến đây, cuộc loạn Lữ Xuyên kéo dài nửa năm chính thức kết thúc.
Tác giả có lời muốn nói:
Thật ra Lý Trọng Nhuận trong lịch sử khá xuất sắc, hiếu thuận hòa ái, thông minh hiếu học, lại còn rất tuấn tú, chỉ là không đủ thận trọng, họa từ miệng mà ra, không giống Lý Long Cơ biết giấu mình, biết diễn.
–
Tôi không thích Lý Long Cơ lắm, nếu tính cách của Kính Tuyên giống hệt Lý Long Cơ, chắc tôi sẽ không nhịn được mà viết cho y chết mất. Kính Tuyên chỉ mượn một phần trải nghiệm từ Lý Long Cơ mà thôi.
–
Phần lớn nhân vật trong truyện này đều không có nguyên mẫu trực tiếp, đều là tôi đông múc một gáo, tây múc một muôi, tự thêm dầu muối mắm nêm, cuối cùng nặn ra thành nhân vật như bây giờ, mong mọi người thích.
GIÓ MƯA – CHƯƠNG 33 – PHẦN 4
Chương 33: Ngọn nguồn loạn Lữ Xuyên (10)
*
Lư Hội lại bắt đầu nằm mộng.
Trước mặt chú chim cút nhỏ có hai con đường, một con dẫn về ao nước quê nhà, con còn lại dẫn tới tòa cung điện vàng son rực rỡ, bên trong ở một con mèo lớn có bộ lông mượt mà dày dặn.
Con mèo lớn liếm phần lông trọc trên trán chim cút nhỏ, giọng chậm rãi: “Nàng nỡ rời bỏ ta sao?”
Chim cút nhỏ đương nhiên là không nỡ. Vòng tay của mèo lớn ấm áp, dễ chịu biết bao, nhưng cô lại nhớ ao nước quê hương.
Mèo lớn cười lạnh: “Quả nhiên nàng lại thay lòng! Ta sẽ không tha cho nàng, ta sẽ phóng một mồi lửa, thiêu rụi tổ chim cút nhà nàng!”
Chim cút nhỏ hoảng hốt thất sắc: “Đừng đốt, đừng đốt, để ta nghĩ thêm đã.”
Lư Hội liên tiếp bốn đêm liền mơ những giấc mộng khiến lòng chẳng yên, đến ngày thứ năm thì đón ráng chiều quay về Vô Danh sơn trang.
Lão Tống nhiều ngày chưa gặp, lo lắng đứng chờ trước cổng sơn trang: “Thiếu tướng… cuối cùng ngài cũng về rồi, phụ thân ngài… không đợi được lâu đâu.”
Lư Hội đang định hỏi “ai vậy?”, thì đã thấy mắt Bùi Thứ Chi sáng lên, giọng nghiêm trang: “Người ấy đến rồi sao?”
Lão Tống hạ giọng: “Hôm nay chúng ta vừa tới. Ở Lương Châu luôn có người để mắt, có thể ra ngoài một chuyến không dễ, các ngài mau nói chuyện đi, trước khi trời sáng ngày mai hắn phải quay về rồi.”
Bùi Thứ Chi trầm giọng: “Ta hiểu.”
Lư Hội thậm chí còn chưa kịp hỏi một câu ‘người đến là ai’, đã bị một đám thị tỳ vâng mệnh Bùi Thứ Chi, vây quanh đưa về phòng tắm gội.
Trong thùng tắm nước nóng cuồn cuộn, cô cảm thấy như thể cả người bị kỳ sạch mất một lớp da. Sau đó là lau khô mái tóc dài, xông hương thay y phục, khoác lên một bộ váy dài mười hai mảnh hoàn toàn mới, tinh xảo vô cùng. Lư Hội cảm thấy, ngay cả khi diện kiến Nữ hoàng, cô cũng chưa từng được sửa soạn kỹ lưỡng đến thế.
Trâm xoắn bằng tơ, trâm cài, lược ngà trắng, tiểu hoa quan bằng tơ vàng đính đầy minh châu, vòng tay bằng vàng rộng bốn ngón khảm bảo thạch lớn bằng đầu ngón cái, những món trang sức to nặng mà tiểu nương tử bình thường khó lòng đỡ nổi, lại vô cùng hợp với khí chất tươi sáng phóng khoáng của Lư Hội.
Toàn thân châu ngọc lấp lánh, Lư Hội bước ra sân, chỉ thấy Bùi Thứ Chi cũng đã thay y phục: trường bào màu thanh sẫm, dệt hoa văn tơ vàng bạc xen kẽ, đầu đội ngọc quan trắng buộc tóc, trông vừa thanh quý vừa nho nhã.
Bùi Thứ Chi vừa đi vừa dặn dò: “Lát nữa gặp khách, lễ số nhất định phải chu toàn, kính trọng yêu quý đầy đủ. Nhớ cười nhiều vào, biết chưa?”
“Ta còn chẳng biết khách là ai, kính trọng yêu quý kiểu gì chứ!” Lư Hội không nhịn được hỏi, “Cho dù thân phận khách nhân kín đáo, không tiện tiết lộ, thì chàng cũng phải nói cho ta biết nên xưng hô thế nào chứ.”
Bùi Thứ Chi mím môi một lát: “…Là một vị trưởng bối mà ta vô cùng kính trọng.”
Lư Hội hiểu ra: “Ồ, là trưởng bối à. Vậy ta gọi là bá phụ có được không?”
Bùi Thứ Chi do dự:
“Nàng… có thể gọi ông ấy là ông.”
Lư Hội ngạc nhiên: “Ông ấy lớn tuổi lắm sao? Vậy gọi ông cũng phải.”
Người đời gọi ông có ba cách: một là chỉ ông nội, hai là cha của phu quân, ba là trẻ nhỏ gọi nam tử cao tuổi để tỏ lòng kính trọng, Lư Hội tự nhiên cho rằng đây là trường hợp thứ ba.
Bùi Thứ Chi ngừng lại một chút: “Không, ông ấy vừa mới qua tuổi tri thiên mệnh.”
Lư Hội: “Ơ, còn chưa đến hoa giáp, sao lại gọi là ông?”
Bước vào nội thất, chỉ thấy một nam tử trung niên vóc người cao lớn, khoanh chân tựa trên ghế hồ. Ông vốn định đứng dậy, Bùi Thứ Chi liền bước lên mấy bước, đỡ lấy, thần sắc đầy vẻ kính mến thân cận: “Người cưỡi ngựa nhiều ngày liền, hẳn là mệt mỏi lắm, đừng đứng lên.”
Chàng quay đầu nói: “Hội Hội, lại đây hành lễ.”
Lư Hội vội tiến lên, cung cung kính kính quỳ trên bồ đoàn, làm lễ bái kiến trưởng bối.
Khi ngẩng đầu lên, cô cuối cùng cũng nhìn rõ dung mạo đối phương.
Vị khách quý hiển nhiên là người lai giữa Hồ và Hán, sống mũi cao, hốc mắt sâu, thân hình vạm vỡ, ngồi trên ghế hồ tựa như một ngọn núi. Nghe nói ông vừa quá năm mươi, nhưng hai bên thái dương đã điểm bạc, trên mặt đầy vẻ gió sương, song trong từng cử động lại mang theo vài phần khí tức binh đao, có chút giống bá phụ Trương Tuấn, Lư Hội đoán ông là một vị tướng lĩnh từng thống binh.
Vị khách quý dung mạo uy vũ là thế, nhưng ánh mắt nhìn về phía Lư Hội lại vô cùng nhu hòa. Ông quay đầu hỏi: “Chính là con bé?”
Gương mặt tựa ngọc đội mũ của Bùi Thứ Chi chẳng hiểu vì sao lại đỏ bừng lên:
“Vâng. Đàm quản sự nói người vẫn luôn hỏi, nên con mới muốn mời người xem qua.”
Khách quý mỉm cười, đánh giá Lư Hội từ trên xuống dưới một lượt, liên tiếp nói:
“Được, được lắm.”
Lư Hội có phần ngơ ngác. Cô cảm thấy bầu không khí trong phòng hết sức cổ quái: Bùi Thứ Chi đứng một bên, e lệ chẳng nói lời nào, chỉ một mực đỏ mặt; vị bá bá khách quý trước mắt thì ánh mắt tràn đầy ý cười, nụ cười ấy, một nửa là hết sức hài lòng với Lư Hội, nửa còn lại dường như đang trêu chọc Bùi Thứ Chi.
Sự trêu chọc ấy không khiến người ta khó chịu, mà còn ẩn chứa sự cưng chiều của trưởng bối đối với vãn bối.
Khách quý dịu giọng nói: “Tiểu nương tử sinh ra thật xinh đẹp.”
Lư Hội đột nhiên sinh thiện cảm với người này, phải biết rằng từ nhỏ tới lớn cô đã nghe đủ mọi lời khen: ngoan ngoãn, thông tuệ, nhân hậu, có gan dạ… duy chưa từng có ai khen cô xinh đẹp.
Cô không nhịn được mà buột miệng thổ lộ tâm tư: “Lão bá quả thực có ánh mắt tinh tường!”
Khách quý lập tức bật cười thành tiếng, sắc mặt Bùi Thứ Chi càng đỏ hơn.
Lư Hội tự biết mình lỡ lời, vội vàng chữa cháy: “Con không phải tự khen dung mạo mình, ý con là… là lão bá người, cái đó… ánh mắt tốt.” Giọng nói càng về sau càng nhỏ.
Khách quý lại hỏi vài câu về tình hình gia đình Lư Hội, nào là cha mẹ ra sao, huynh đệ chị em thế nào. Bùi Thứ Chi ra hiệu cứ nói thật, vì vậy Lư Hội lần lượt đáp lại. khách quý khẽ thở dài: “Tiểu nương tử đúng là có phúc, phụ mẫu song toàn, cả nhà hòa thuận viên mãn.”
Thiếu nữ có đôi mắt rất đẹp, trong trẻo sáng ngời, tựa như một vầng trăng vừa được vớt lên từ suối nước.
Khách quý trong lòng sinh thích, ngữ khí càng thêm mềm mại: “Con có phải là… trong lòng có Nhược Trạm không?”
Lư Hội vô thức quay đầu cầu cứu.
Bùi Thứ Chi đỏ mặt hệt như một cô nương lớn bị người ta bắt gặp tâm sự xuân tình: “Có gì thì cứ nói thẳng.”
Lư Hội hiểu rồi, vị khách quý trước mắt này là “người nhà” của Bùi Thứ Chi, chuyện gì cũng có thể nói.
Cô thản nhiên thừa nhận: “Vâng, tiểu nữ trong lòng có Bùi Thứ Chi.”
Cô không quay đầu, nên không nhìn thấy thần sắc của Bùi Thứ Chi khi nghe tám chữ ấy, tựa như một khối mỹ ngọc trong suốt lạnh lẽo, bỗng nhiên sinh ra một mảnh hào quang ấm áp rực rỡ.
Sở Vương lặng lẽ nhìn ánh mắt con trai mình dõi theo thiếu nữ, trong lòng vừa vui mừng vừa chua xót, thầm nghĩ nếu người vợ đã khuất cũng có thể gặp được tiểu nương tử này thì tốt biết bao.
Ông cúi đầu, ôn hòa hỏi: “Ngoài việc thân quyến an khang, quốc thái dân an, tiểu nương tử còn có tâm nguyện nào khác không?”
Lư Hội nghĩ một lát: “Nếu không vì bị trì hoãn ở Đông Đô, con vốn định đi Úy Đầu Châu xem thử.”
Sở Vương lấy làm lạ: “Úy Đầu Châu?”
Lư Hội tràn đầy hướng đến hy vọng: “Vâng. Con còn chưa từng đến Úy Đầu Châu. Về phía tây, vượt qua Thông Lĩnh có một vùng đất nước cỏ phong phú, là nơi tất yếu phải đi qua trên con đường buôn bán Tây hành. Ở đó vừa có đại mạc mênh mang, lại có hồ nước rộng lớn, còn có rừng hồ dương sinh trưởng hàng ngàn năm nối tiếp không dứt. Con nghe thương lữ nói rằng, tới cuối thu, rừng cây nhuộm màu, phóng mắt nhìn đâu đâu cũng một sắc vàng óng.”
Sở Vương hỏi tiếp: “Thế còn Bùi Thứ Chi thì sao?”
Lư Hội không chút do dự: “Đương nhiên là đưa chàng đi cùng. Đi để thấy kỳ quan sa mạc kề nước, cảm nhận sự hùng vĩ mênh mang của trời đất. Đến lúc đó, chàng sẽ không còn ngày ngày u uất nữa.”
Sở Vương mỉm cười: “Ý tưởng này rất hay.”
Trước khi ra cửa, vị khách quý ấy đưa cho Lư Hội một chiếc hộp gỗ mun nặng trịch, nói là lễ gặp mặt. Về phòng, cô vội mở hộp ra, lập tức bị ánh châu ngọc bên trong làm lóa mắt, trên tấm đệm lụa đỏ sẫm đặt một chiếc hoa quan bằng tơ vàng, khảm đầy châu ngọc bảo thạch.
Giờ đây Lư Hội cũng đã có chút kiến thức, biết thứ này gọi là “Thất bảo lưu ly quan”, là vật các quý phụ nhân chốn hoàng thất cao môn dùng khi dự đại yến, đội trên búi tóc, cô có phần mơ hồ, chẳng lẽ Bùi thị Hà Đông cũng coi trọng đến mức này sao.
Bỗng chốc có được một món tài vật lớn, thiếu nữ vui sướng khôn xiết. Dù sau này chưa chắc có cơ hội đội ra ngoài khoe khoang, chỉ cần ôm chiếc quan miện châu báu xa hoa này trong lòng thôi cũng đã thấy vui rồi, rồi cô thật sự ôm quan miện mà ngủ thiếp đi, trong mộng tràn ngập ánh vàng lấp lánh.
Sáng hôm sau, trời còn chưa sáng, cô đã bị thị tỳ gọi dậy, nói rằng: “Khách quý sắp khởi hành rồi, công tử mời nữ lang ra tiễn.”
Lư Hội đội búi tóc vừa mới chải xong, ngáp ngắn ngáp dài bước ra ngoài sơn trang, thì thấy Bùi Thứ Chi vẫn mặc nguyên bộ y bào đêm qua. Cô càng thêm hiếu kỳ thân phận của vị khách quý này khiến Bùi Thứ Chi coi trọng đến vậy, không chỉ đàm đạo suốt đêm, mà còn phá lệ chưa từng quấy giấc ngủ ngon của cô, cứng rắn gọi cô dậy để tiễn khách.
khách quý đã lên xe ngựa, mắt thấy sắp sửa rời đi, thị tỳ liền nhét vào tay Lư Hội một chiếc khay gỗ hoa hải đường còn bốc hơi nghi ngút.
Bùi Thứ Chi dặn dò: “Mau đi dâng trà thang.”
Lư Hội vội tiến lên, hai tay nâng cao khay trà: “Xin… xin mời lão bá dùng trà.”
Khách quý cười nói: “Nghe nói Nhược Trạm bảo con gọi ta là ông, nhưng con lại chê ta chưa đủ già, không chịu gọi, có phải không?”
Lư Hội nhớ tới chiếc bảo quan vàng óng kia, liền cảm thấy xưng hô thế nào cũng chỉ là chuyện nhỏ. Bị xem như tiểu đồng thì tiểu đồng vậy, nói không chừng vị khách quý này lại thích người ta gọi mình là già thì sao.
Cô thuận theo: “Tiết thu lạnh thấu xương, xin ông dùng một bát trà thang, làm ấm thân thể rồi hãy khởi hành.”
“Hay, hay!” Khách quý cười lớn sảng khoái.
Bùi Thứ Chi lại đỏ mặt.
Lư Hội chợt thấy, dáng vẻ cười của vị khách quý này có phần quen mắt.
–
Tiễn người rời đi xong, Lư Hội liền vội hỏi: “Rốt cuộc vị khách quý ấy là ai? Khi nào chàng mới có thể nói cho ta biết?”
Bùi Thứ Chi khẽ thở dài: “Đợi đến khi tân hoàng đăng cơ, có lẽ mới có thể nói.”
Lư Hội sững người giây lát rồi mới hiểu ra, tân hoàng đăng cơ, chẳng phải chính là sau khi Nữ hoàng băng hà hay sao.
Cô không khỏi sinh nghi: Bùi Thứ Chi kỳ thực không phải kẻ gió chiều nào theo chiều ấy, mà là người ủng hộ Lăng Dương Vương kế vị, cô theo trực giác đã loại trừ khả năng Lương Vương Chử Thừa Cẩn trở thành Thái tử.
Chưa kịp nghĩ thông suốt, Vô Danh sơn trang lại có khách tới, là một cặp vợ chồng trung niên tự mình đánh xe đến.
Lần này Lư Hội vừa mới chạm mặt đã biết người tới là ai, người đàn ông trung niên râu quai nón, dung mạo tuấn tú phóng khoáng, lại có gương mặt giống Bùi Thứ Chi đến lạ. Chỉ thấy ông cẩn thận đỡ thê tử là Liễu phu nhân từ trên xe ngựa bước xuống.
“Bái kiến Bùi bá phụ, Bùi bá mẫu.” Lư Hội vội vàng hành lễ.
Bùi Hoàn cười híp mắt nhìn cô: “Con chính là Lư tiểu nương tử sao, được lắm, được lắm…”
Liễu phu nhân cắt ngang lời ông, nói thẳng: “Dọc đường gặp một nơi phong cảnh kỳ thú. Nhược Trạm tìm cho ta một chỗ có thể vẽ tranh.”
Hai câu trước sau chẳng ăn nhập gì, nhưng Bùi Thứ Chi dường như đã quen từ lâu, liền quay đầu dặn lão Tống: “Làm phiền tiên sinh.”
Lão Tống vội tiến lên: “Xin phu nhân theo lão hủ qua đây.”
Giữa sân vườn, trong tiểu đình bày ra bữa trưa. Ba người quây quanh một bàn đá ngồi xuống, lúc này Bùi Thứ Chi mới hỏi: “Phụ thân chẳng phải đang thủ tang hay sao? Sao lại đến đây?”
Bùi Hoàn trợn mắt: “Nói kiểu gì thế, chẳng lẽ ta trèo tường trốn khỏi lão trạch à? Hừ, là Nữ hoàng hạ chỉ, triệu ta vào cung bàn chuyện dẹp loạn.”
Thần sắc Bùi Thứ Chi chợt nghiêm lại: “Bệ hạ nói những gì?”
Bùi Hoàn hậm hực: “Chẳng có gì quan trọng, đi đi lại lại vẫn từng ấy chuyện cũ. Con còn chưa hiểu rõ tính tình của Nữ hoàng sao? Bà ta giỏi nhất là rõ ràng trong lòng mà ngoài mặt giả vờ hồ đồ. Vì sao Lữ Xuyên tạo phản? Vì sao triều đình liên tiếp bại trận? Vì sao nhất định phải treo cờ Lăng Dương Vương mới chiêu được binh sĩ? Trong lòng bà ta sáng như gương, cần gì người khác khai giải.”
“Triệu ta vào cung chẳng qua là cầu chút an ủi, ta liền lựa lời dễ nghe mà nói thôi. Nào là quốc thái dân an, vạn dân kính ngưỡng, loạn Lữ Xuyên chỉ là bệnh ghẻ lác, sớm muộn cũng qua… Quả nhiên Nữ hoàng long nhan đại duyệt, ban thưởng cho ta không ít bảo vật. Rời Thần Đô xong, ta bảo quản sự dẫn xe đội thong thả đi theo quan đạo về Hà Đông, còn ta thì cùng mẫu thân con vòng đường tới Vô Danh sơn trang, xem có gặp được con không.”
Lư Hội thấy “phụ thân” của người cậu giả này thật thú vị, chẳng hề có dáng vẻ trưởng bối, lời nói lại dí dỏm phong phú, cười mắng đều có lý. Cô vui lên, liền không ngừng rót rượu cho người ta.
Bùi Hoàn quay sang nói: “Lư tiểu nương tử cũng nên nhớ kỹ, thấy kẻ không chọc nổi giả vờ ngủ, con không những phải giả như không biết, mà còn phải đắp chăn, thổi đèn cho người ta, ân cần chu đáo. Người ta diễn kịch, con cũng diễn kịch, ấy gọi là đời như tuồng hát!”
Lư Hội che miệng cười khúc khích:
“Thế nếu là kẻ chọc nổi mà giả ngủ thì sao?”
Bùi Hoàn cười ha hả: “Cái này thì lắm cách lắm. Thường mà nói, mùa đông dội nước lạnh, mùa hạ dội nước nóng, lại có thể thêm rắn rết chuột bọ, bọ chét châu chấu, dầu muối tương dấm, đổ ào một lượt xuống…”
Tiếng cười của Lư Hội trong veo, gần như gục cả người xuống bàn đá.
Bùi Thứ Chi nghe không nổi nữa: “Phụ thân là trưởng bối, sao có thể ăn nói vô trạng đến vậy.”
Bùi Hoàn chỉ vào Lư Hội đang cười rạng rỡ như hoa: “Con nhìn tiểu nương tử người ta vui vẻ thế kia kìa, chỉ có con là vô vị, đáng đời cả đời ru rú trên triều đình, bon chen mưu sinh!”
Lư Hội lại không nhịn được, ‘phụt’ một tiếng bật cười.
Bùi Thứ Chi nhàn nhạt nói: “Bảo sao người người đều nói phụ thân rất được nữ tử yêu mến, trên thì lão ẩu tóc bạc, dưới tới thiếu nữ tuổi đậu khấu, không ai là không thích nghe phụ thân nói chuyện, ngay cả bệ hạ cũng vậy.”
Lời nguyên văn của Bùi Ánh là: huynh trưởng song sinh của bà sinh ra đã mang đào hoa trên đầu, cho dù ăn mặc túng thiếu rách rưới, để một mặt râu ria lộn xộn, đi tới chốn hoang sơn dã lĩnh cũng có nữ quỷ thích.
Bùi Hoàn trừng to mắt: “Không bằng không chứng thì đừng có nói bừa! Trên đầu ba thước có thần linh, hôm nay mẫu thân con cũng ở đây đấy!”
Lư Hội thấy vị đại thúc tuấn tú bị oan thì không đành lòng, liền bước lên phụ họa:
“Thiếu tướng lời này thật không có đạo lý. Trẻ con hái hoa, lẽ nào lại trách hoa sinh ra quá diễm lệ? Bùi bá phóng khoáng quang minh, người người kính phục, lẽ nào là lỗi của bá sao?”
Bùi Hoàn vỗ tay khen lớn: “Tiểu nương tử thật có kiến thức!”
Lư Hội mày giãn mắt cười: “Đâu dám đâu dám.”
Ánh mắt Bùi Thứ Chi quét qua, Lư Hội lập tức không dám cười nữa, ngồi ngay ngắn, nghiêm chỉnh đàng hoàng.
Bùi Hoàn mắng: “Con đừng có dọa con bé!”
Bùi Thứ Chi khẽ thở dài: “Hội Hội, nàng chẳng phải thích vẽ sao, đi xem mẫu thân ta vẽ tranh đi, ắt sẽ có thu hoạch.”
Bùi Hoàn hiếm khi tán đồng: “Lời này không sai, tiểu nương tử đã thích vẽ thì nhất định phải đi xem.”
Nghe hai người nói huyền hồ như vậy, Lư Hội cũng sinh hiếu kỳ, liền cáo lui rời đi.
Đợi cô đi xa, Bùi Hoàn thu lại nụ cười, trầm giọng nói: “Con định động vào Chử thị rồi?”
Ánh mắt Bùi Thứ Chi lóe lên: “Cậu nghe được điều gì?”
Bùi Hoàn nói: “Chử Thừa Cẩn cái loại ngoài cứng trong yếu ấy mà dám chủ động xin đi dẹp loạn? Có đầu thai thêm mười kiếp cũng không thể! Là con xúi giục, đúng không? Con muốn làm gì?”
Bùi Thứ Chi khẽ cười: “Chử thị sớm đã đáng chết rồi.”
Bùi Hoàn nghiêm mặt: “Ta nói trước. Con muốn lật mây đảo gió thế nào ta không quản, nhưng tuyệt đối không được liên lụy tới nhà họ Bùi.”
Năm đó ông liều lĩnh giữa muôn trùng nguy hiểm đưa cháu ngoại về Hà Đông nuôi dưỡng, vì mong người muội muội chết sớm được an lòng; nhưng ông cũng không muốn hành động long trời lở đất của cháu ngoại kéo nhà họ Bùi xuống nước.
Bùi Thứ Chi cũng nghiêm túc hẳn lên: “Cậu cứ yên tâm, con đã sắp đặt ổn thỏa. Nếu có vạn nhất, ‘Bùi Thứ Chi’ người này sẽ chết trước mắt thiên hạ, tuyệt đối không liên lụy đến nhà họ Bùi.”
Bùi Hoàn sinh lòng buồn bã: “Thất Lang mất sớm đã nhiều năm, ta cùng phu nhân cũng đã nghĩ thông, chỉ mong tổ mẫu con cũng có thể nghĩ thông.”
Bùi Thứ Chi: “…Hay là, cậu với mợ sinh thêm một đứa nữa đi.”
–
Lư Hội đứng dưới hành lang thủy tạ đã gần nửa canh giờ mà vẫn chưa nhúc nhích.
Liễu phu nhân đang vẽ tranh trong thủy tạ, đối diện một bức tường trắng rộng sáu thước, cao bảy thước. Bên cạnh, Tống tiên sinh dùng nước trong, keo dầu và bột màu cẩn thận điều chế sắc liệu; ngoài lan can còn có hai thị tỳ và hai thư đồng đang dốc sức nghiền cát màu.
Liễu phu nhân hoàn thành nét bút cuối cùng, từ chiếc đôn tròn nhảy xuống.
Bà mồ hôi đầm đìa, trên cánh tay và cổ, gân mạch nổi rõ từng đường, tựa như vừa trải qua một trận quyết đấu sinh tử.
Cảnh vật trong tranh hết sức giản dị: một vách núi cheo leo đột ngột lật ra ngoài, khô cằn, hoang vu, hiểm ác; dưới vách đá chỉ mọc vài bụi cỏ dại, không có khói lửa nhân gian, cũng chẳng có hoa chim rực rỡ.
Sắc liệu sử dụng cũng chỉ vỏn vẹn bốn màu: chàm sẫm, trà bạch, đỏ đất và đen gỗ mun.
Thế nhưng bức tranh này dường như có sinh mệnh riêng, có âm thanh, có xúc cảm — giữa cơn cuồng phong gào thét như xé rách trời xanh, khối đá lõm nhô ra ngoài vách núi vẫn trầm mặc không sợ hãi; ngay cả mấy bụi cỏ dại cũng giương nanh múa vuốt, liều mạng leo lên trên, khát khao tìm kiếm một tia nắng, dù rằng ngay khoảnh khắc chạm được ánh dương ấy, chúng cũng đồng thời bị cuồng phong quật gãy.
Mảnh trời đất trong tranh ẩn chứa một sức mạnh vừa khiến người kính sợ lại vừa vui mừng, trong áp lực nặng nề to lớn lại tích tụ một dũng lực chực chờ bộc phát, thô ráp mà rực rỡ đến kinh người, vừa khiến lòng người rạo rực muốn thử sức, lại vừa tràn đầy cảm giác rờn rợn của điều chưa biết.
Lư Hội nín thở, như thể tận mắt trông thấy mảnh hoang nguyên thê lương ấy, nơi tận cùng hoang nguyên có một vách núi dựng đứng.
Mặt lão Tống, tay ông, cả áo bào lão đều dính đầy sắc liệu, vậy mà ông hoàn toàn không hay biết, chỉ đứng ngẩn người trước bức tranh: “Phu nhân quả thực thần hồ kỳ kỹ, lão phu bội phục, bội phục…”
Liễu phu nhân nhấc túi nước dưới đất lên, ngửa đầu uống ừng ực, rồi quệt miệng nói:
“Đáng tiếc thật. Thủy tạ này vừa gần nước lại đón gió, cho dù quét loại dầu tốt đến đâu, bức tranh này cũng chẳng giữ được mấy năm, không thì ẩm mốc, cũng sẽ bong tróc phai màu.”
Lão Tống hối tiếc không thôi, vỗ mạnh đùi: “Ây da, phu nhân nói sớm chứ! Trong sơn trang có mấy gian đại ốc dùng để cất đồ, đến cửa sổ cũng không có, phu nhân hoàn toàn có thể vào trong nhà mà vẽ!”
“Không được.” Lư Hội bỗng lên tiếng, “Phòng kín ánh sáng u ám, dù có thắp thêm bao nhiêu đèn nến, màu sắc cũng không giống cảnh sắc phu nhân nhìn thấy ngoài trời. Mà thủy tạ này ánh sáng sung túc, là nơi thích hợp nhất để khắc họa thần vận của dã cảnh.”
Ánh mắt Liễu phu nhân lộ vẻ tán thưởng: “Tiểu nương tử cũng hiểu tranh ư?”
Lư Hội đỏ mặt xấu hổ: “Trước mặt phu nhân, mấy ai dám nói hai chữ ‘hiểu tranh’.”
Liễu phu nhân nói: “Không biết vẽ thì chẳng lẽ không biết xem? Xem hiểu được cũng là hiểu.”
Bà quay sang lão Tống: “Loại lụa dày ta dùng lần trước, trong sơn trang còn không? Phiền tiên sinh tìm cho ta một cuộn nữa, dài không dưới ba thước, rộng không dưới hai thước, ta muốn sao lại bức tranh này lên lụa.”
Lão Tống liên tục gật đầu: “Hẳn là còn, để lão phu đi tìm… Ấy, phu nhân sao lúc nãy không vẽ thẳng lên lụa? Vất vả vô ích trên bức tường này làm gì!”
“Bởi vì không đợi được.” Lư Hội khẽ thở dài, “Tiên sinh hẳn cũng có lúc thi hứng bừng lên, nếu không viết ngay, chẳng khác nào trong lòng có một ngọn lửa thiêu đốt.”
Lão Tống bừng tỉnh, cảm xúc dâng trào: “Lời này nói hay lắm.”
Liễu phu nhân nhìn thiếu nữ, mỉm cười: “Con thật khiến người ta yêu mến.”
Bà lại an ủi lão Tống: “Tiên sinh không cần bận lòng. Người vẽ tranh chúng ta không giống các ông làm thơ viết văn, cho dù không có bút mực cũng có thể lưu dấu khắp nơi. Suốt ngàn trăm năm qua, những bức tranh có thể truyền lại đời sau, phần nhiều chưa chắc đã là những tác phẩm tốt nhất, nhưng dù sao cũng còn hơn là không có gì.”
Nghĩ đến vô số họa sư tài hoa tuyệt thế không thể lưu lại những tác phẩm giàu nhiệt huyết nhất, lão già tự xưng phong nhã văn sĩ bỗng đỏ hoe vành mắt, lẩm bẩm: “Ngàn năm trôi qua, trời xanh cũng có điều tiếc nuối…”
Lư Hội nghe mà răng hơi ê cả lên.
“Được rồi, đừng mài nữa, chừng này đủ dùng.” Liễu phu nhân dặn thị tỳ và thư đồng, “Nhân lúc trời còn sáng, mời tiên sinh mau đi tìm lụa dày đi.”
Lão Tống lĩnh mệnh rời đi, thị tỳ và thư đồng cũng kính cẩn lui khỏi thủy tạ.
Liễu phu nhân ngồi phóng khoáng trên lan can, vỗ vỗ chỗ bên cạnh: “Nào, lại đây ngồi.”
Lư Hội nhìn lan can mà thấy hơi run chân: “Phu nhân vẫn nên ngồi trên tảng đá thì hơn, nhỡ lan can gãy rơi xuống nước thì làm sao? Bản lĩnh bơi lội của con chỉ đủ tự cứu mình thôi.”
Liễu phu nhân cười lớn, sau đó hai người cùng ngồi xuống tảng đá.
“Con chính là Hội nương Lư thị phải không?” Liễu phu nhân mỉm cười, “Con có điều gì muốn nói với ta?”
Lư Hội nịnh nọt ghé sát lại: “Trước khi thấy phu nhân vẽ tranh, con cảm thấy phu nhân có chút không xứng với Bùi công. Sau khi thấy phu nhân vẽ tranh rồi, con lại thấy Bùi công không xứng với phu nhân. Phu nhân hoàn toàn có thể tìm một phu quân tốt hơn, ngay cả Long Vương cũng xứng!”
Liễu phu nhân lại cười vang một tràng, tiếng cười sảng khoái vui vẻ.
Chỉ cần nhìn Bùi Thứ Chi cũng đủ biết, năm xưa Bùi Hoàn hẳn là tuấn mỹ phong hoa đến nhường nào, khí độ nổi bật; trái lại Liễu phu nhân gầy gò bình đạm, cho dù quay về hai mươi mấy năm trước, cũng chỉ có thể coi là một tiểu nương tử thanh tú gầy yếu.
Chưa kể đến sự cách biệt một trời một vực về môn đệ giữa hai người.
Liễu phu nhân cười đủ rồi, chỉ vào bức tường hỏi: “Con thấy bức tranh của ta thế nào?”
Lư Hội xuất phát từ tận đáy lòng mà tán thưởng: “Thật khiến người ta than rằng kỳ tuyệt, không gì sánh nổi.”
Liễu phu nhân nhìn bức họa trên tường, chậm rãi nói: “Họa sư của phái chúng ta không thể quanh quẩn mãi trong thâm trạch đại viện, nhất định phải du hành bốn phương, xem đủ thế thái nhân tình, nếm trải tang thương cõi đời, như vậy mới có thể tu luyện ra công lực chân chính. Bằng không, cũng chỉ là có hình mà không có cốt, hoàn toàn thiếu phong cốt.”
Bà bỗng hỏi: “Tiểu nương tử có từng nghe qua một bậc đại gia trong giới hội họa tên là Chu Tư Thanh hay chưa?”
Lư Hội lắc đầu.
Liễu phu nhân thở dài: “Vị tiền bối họ Chu ấy cùng một phái với ta, chỉ là ta giỏi vẽ cảnh, còn ngài ấy thì giỏi vẽ người.”
Lư Hội tò mò hỏi: “Có khác biệt nhiều lắm sao?”
Liễu phu nhân đáp: “Khác biệt lớn lắm. Ta là đem vật chết vẽ ra sinh khí, còn ngài ấy thì lại có thể đem đôi mày ánh mắt, thần thái cử chỉ, thậm chí cả tính tình thói quen của người sống, từng chút từng chút một khắc vào trong cuộn tranh dài chỉ hơn một thước mà tĩnh lặng kia.”
Trên mặt bà hiện lên vẻ tiếc nuối: “Than ôi, đáng tiếc thật. Những năm qua ta còn thu được hai đệ tử có linh khí, vậy mà vị Chu tiền bối ấy chẳng những không để lại truyền nhân, đến cả tranh vẽ cũng chẳng truyền ra được mấy bức.”
Lư Hội nghe đến xuất thần, trong lòng không khỏi cảm thấy thương tiếc cho vị tiền bối hội họa chưa từng gặp mặt kia.
“Thôi, không nói chuyện vẽ tranh nữa.” Liễu phu nhân phẩy tay, “Ta phải cảm tạ con cho tốt. Suốt một năm qua, đa tạ con luôn ở bên an ủi A Tiết. Lần này ta gặp lại nàng ấy, khí sắc đã khá hơn trước rất nhiều.”
Lư Hội đỏ mặt, xấu hổ nói: “Tiểu nữ hổ thẹn, mang danh là ở bên bầu bạn cùng Tiết phu nhân, nhưng thực tế lại không xứng với danh ấy.”
Liễu phu nhân khoát tay: “Con không cần giải thích với ta. Những mưu tính mây mù của Nhược Trạm, ta cũng nghe chẳng hiểu. Cao nương tử đã nói với ta rồi, bất luận con bận rộn đến đâu, chỉ cần có thời gian là đều tới bầu bạn cùng A Tiết. Phần tình nghĩa này, ta xin nhận.”
Lư Hội trầm mặc trong chốc lát, rồi khẽ nói: “…Tiết phu nhân thật đáng thương, mà cũng thật đáng than.”
Thần sắc Liễu phu nhân trở nên sầu não: “Ta và A Tiết quen biết nhau từ thuở nhỏ. Nhà ta chỉ là một nhánh bàng hệ của thế tộc đã suy bại, sớm chẳng khác gì bạch thân; còn nàng ấy lại xuất thân từ danh môn vọng tộc Tiết thị ở Kinh Triệu, phụ huynh huynh trưởng đều giữ chức cao quyền trọng. Khi ấy, A Tiết luôn lo lắng cho ta…”
“Không ai ngờ rằng, người thực sự đáng lo lại không phải là ta, mà là A Tiết.” Giọng bà trĩu xuống, “A Tiết quá đỗi ôn thuận nhu nhược. Khi đó nếu nàng ấy mang theo Trĩ Nương bỏ trốn thì tốt biết bao. Dẫu có không tìm được ta, chuyển sang một châu quận khác, chỉ dựa vào tay nghề ấy của nàng, cũng đủ để sống tiếp.”
Lư Hội nhìn mặt hồ lấp lánh gợn sóng, khẽ nói: “Nhân gian bách thái, chẳng phải nữ tử nào cũng có được dũng khí như phu nhân.”
Liễu phu nhân lắc đầu: “Ta chỉ là vận khí tốt, gặp được Bùi Hoàn, bằng không năm đó ta đã phải liều đến cá chết lưới rách rồi.”
Bà bỗng quay đầu lại, hỏi: “Con có thích Nhược Trạm không?”
Đối diện với vị khách quý ngày hôm qua, Lư Hội có thể rất thản nhiên nói ra tám chữ “tiểu nữ trong lòng có Bùi Thứ Chi”, thế nhưng đối diện với vị nữ họa sư hiếm có trên đời, ánh mắt sáng như gương này, cô lại do dự.
“Có thích.” Lư Hội gật đầu trước, rồi lập tức trở nên mê mang, “Nhưng con không biết là thích đến mức nào.”
— Thích đến mức từ nay ở lại Đông Đô ư? Thích đến mức quyết tâm cùng chàng sống trọn một đời ư?
Liễu phu nhân lặng lẽ nhìn cô một hồi, bỗng nói: “Ta dạy con một cách để phân biệt.”
Lư Hội: “Vâng?”
Liễu phu nhân hỏi: “Con có chị em thân thiết không?”
Lư Hội lập tức đáp: “Có chứ, chúng con cùng nhau lớn lên từ thuở nhỏ.”
“Thân thiết đến mức nào?”
“Cùng hoạn nạn, cùng hưởng phú quý, có thể phó thác cả tính mạng. Nếu không phải tỷ ấy không muốn, con đã sớm bảo cha mẹ nhận tỷ ấy làm nghĩa nữ rồi!”
Liễu phu nhân cười híp mắt: “Vậy thì tốt.”
–
Trước khi trời tối, Liễu phu nhân rốt cuộc đã hoàn thành bức họa trên tấm lụa dày. Dẫu cùng là một họa sư, dùng cùng bút vẽ và màu sắc, nhưng bức tranh trên lụa vẫn chỉ đạt được sáu bảy phần rung động lòng người so với bức họa trên tường.
Lão Tống vừa kích động vừa tiếc nuối, khóc đến nước mắt nước mũi giàn giụa.
Bùi Thứ Chi bị quấy rầy đến không chịu nổi, liền trực tiếp sai người tháo dỡ cả tòa thủy tạ, đục nguyên vẹn bức tường có tranh kia xuống, để lão Tống muốn cất giữ thế nào thì cất giữ.
Lão Tống lập tức nín khóc mà cười, lật đật theo sau đám thị vệ khiêng bức tường tranh đi.
Sáng sớm ngày hôm sau, Bùi Thứ Chi như thường lệ lôi Lư Hội ra khỏi ổ chăn ấm áp, tiễn vợ chồng Bùi Hoàn lên đường.
Bùi Hoàn phóng khoáng vung tay một cái, nói rằng mình ghét nhất là lễ nghi rườm rà, chỉ nói một câu “tạm biệt” rồi giục ngựa lên đường. Còn Liễu phu nhân thì càng phóng khoáng hơn, trực tiếp ngủ trong xe ngựa, đến cả một tiếng “tạm biệt” cũng chẳng nói.
Lư Hội chỉ muốn bật cười: “Lệnh tôn lệnh đường, quả thực là xứng đôi.”
Bùi Thứ Chi nắm tay Lư Hội, vừa đi bộ trở về sơn trang vừa hỏi: “Hôm qua mẫu thân đã nói gì với nàng? Lúc dùng bữa tối, nàng cứ như người mất hồn vậy.”
Lư Hội giãy tay chàng ra, nhảy nhót lên phía trước mấy bước, quay đầu cười nói: “Những lời tiếp theo ta sắp nói, chàng nhất định sẽ thích nghe.”
Bùi Thứ Chi nói: “Ồ, nói ra ta nghe xem.”
Lư Hội tinh nghịch vừa lùi bước vừa đi ngược phía trước chàng: “Ta hỏi Liễu đại gia làm thế nào để biết tình ý dành cho một người sâu đến đâu. Liễu đại gia bày cho ta một cách, bảo ta nghĩ xem, có nguyện ý đem người ấy chia cho chị em thân thiết nhất hay không.”
Sắc mặt Bùi Thứ Chi lạnh hẳn xuống: “Vì sao nàng cho rằng ta sẽ thích nghe chuyện này?”
Lư Hội vẫn cười ngọt ngào, tiếp tục nói: “Người đầu tiên ta nghĩ tới là Hiếu Trung, ta lập tức nguyện ý. Hiếu Trung tâm địa nhân hậu, nhưng tay không trói nổi gà, lại dễ bị lừa gạt. Y Lam thì vừa thông minh vừa lợi hại, nếu hai người họ thật sự có tình ý với nhau, ta sẽ thành tâm chúc họ bách niên hảo hợp.”
Bùi Thứ Chi nhất thời không đoán ra dụng ý của cô: “Nàng đang nói cái gì vậy?”
Lư Hội tiếp lời: “Sau đó là Tử Tuân. Ta nghĩ một chút, cũng thấy có thể. Tuy Y Lam ghét nhất là mấy thư sinh khóc lóc ủy mị, nhưng trong thoại bản có nói, hoan hỉ oan gia thường bắt đầu từ ghét nhau mà ra. Y Lam có thừa thủ đoạn, đủ để trấn trụ mẹ của Tử Tuân; Tử Tuân thì cẩn thận chu đáo, nhất định cũng sẽ chăm sóc Y Lam cho tốt.”
Bùi Thứ Chi vẫn chẳng hiểu ra sao: “Y Lam cãi nhau với nàng rồi à?”
“Sau đó là A Ô Nhĩ…” Lư Hội khẽ thở dài, “Y Lam và huynh ấy đều là những kẻ cô khổ từ thuở nhỏ, một người thì cả tộc chết sạch, một người có thân nhân mà chẳng khác gì không có. Nếu bọn họ có thể sưởi ấm cho nhau, cùng nhau sống hết đời này, ta nguyện chia cho họ một nửa gia sản mà cha mẹ giao cho ta, chỉ mong nửa đời sau của họ được yên ổn thuận hòa, không còn chịu cảnh lưu ly khổ sở nữa.”
Bùi Thứ Chi tuy chưa hiểu đầu đuôi, nhưng trong lòng vẫn rất cảm động. Chàng kéo cô lại gần, cười đùa nói: “Chẳng trách lệnh đường luôn nói nàng giữ không được tiền trong tay, còn chưa phân gia mà đã nhớ tới chuyện chia tiền cho người khác rồi.”
Lư Hội nghiêm mặt: “Chàng còn có muốn nghe ta nói tiếp hay không?”
Bùi Thứ Chi bất lực ngước nhìn trời: “Nàng cũng định đem ta gả cho Y Lam sao?”
Thần sắc Lư Hội trở nên nghiêm túc: “Y Lam nếu rơi vào hiểm cảnh, ta nguyện lấy mạng mình mà đổi; Y Lam nếu mất tay mất chân, ta cũng nguyện chặt tay chặt chân mình nối cho tỷ ấy; nhưng bảo ta nhường chàng cho tỷ ấy, ta không nguyện ý. Dù chỉ chia ra một chút thôi, ta cũng không nguyện ý.”
“Trừ phi… chàng thay lòng đổi dạ.” Chỉ nghĩ tới điều ấy thôi, thiếu nữ đã thấy tim mình thắt lại. Cô như một con sói con dữ tợn: “Ta tuyệt đối sẽ không chúc các người bách niên hảo hợp, cũng chẳng mong các người duyên phận viên mãn. Ta còn muốn đi thật xa, vĩnh viễn không gặp lại đôi cẩu nam nữ các người!”
Bùi Thứ Chi thoáng sững người, rồi lập tức hiểu ra. Chàng cười đến không chịu nổi: “Đồ không có lương tâm, có phải nàng ghi hận ta liền hai ngày liền quấy giấc ngủ của nàng, nên tiện tay chụp cho ta cái mũ tội danh này không?!”
Chàng bế xốc eo thiếu nữ lên, đón làn gió sớm bên hồ, xoay liền hai vòng rồi mới thả xuống: “Còn dám nói bậy nữa, ta sẽ ném nàng xuống đó cho cá ăn!”
Lư Hội tự nghĩ lại cũng thấy buồn cười, vịn lấy cánh tay Bùi Thứ Chi đứng cho vững.
Cô nhìn về phía ánh sáng lấp ló giữa cành cây, chăm chú nói: “Bùi Thứ Chi, ta đổi ý rồi. Ta muốn cùng chàng bạc đầu giai lão, vĩnh viễn không rời. Chàng không đổi, ta cũng không đổi.”
Bùi Thứ Chi siết chặt cô vào lòng, không ngừng hôn lên mái tóc bên thái dương cô.
Trong lòng Lư Hội tràn đầy hoan hỉ, như thể đã định xong chuyện lớn nhất của đời này, liền dang tay ôm lại chàng.
Chốc lát sau.
Lư Hội cảm thấy xung quanh hơi lành lạnh.
Bùi Thứ Chi chậm rãi đẩy thiếu nữ ra, thần sắc bình tĩnh, ánh mắt sâu thẳm, giọng nói chậm đến lạ thường.
“Thế nào gọi là ‘đổi ý rồi’? Lẽ nào trước đây, nàng chưa từng nghĩ tới chuyện cùng ta bạc đầu giai lão sao?”
Lư Hội dựng cả lông tơ, trong lòng gào thét thảm thiết “xong rồi xong rồi xong rồi”.
“Không có đâu, ta không phải ý đó…”
Bùi Thứ Chi mỉm cười, nụ cười khiến người ta sợ hãi vô cùng: “Nếu trước đó nàng chưa từng nghĩ tới chuyện thành thân cùng ta, vậy vì sao nàng hết lần này tới lần khác thổ lộ tâm ý với ta?”
Giữa mày chàng nhíu chặt. Không thành thân, cớ sao lại thề non hẹn biển?
“Chẳng lẽ dự định trước đây của nàng là học theo lũ quý phụ phong lưu phóng đãng kia, sớm nắng chiều mưa, có đầu không đuôi?!” Chàng gầm lên giận dữ, ánh mắt âm trầm, hận không thể lao tới cắn xuống người cô một miếng.
Trong lòng Lư Hội là một tràng ai oán “xong rồi xong rồi xong rồi”.
“Không không phải, chàng đừng giận trước đã, nghe ta giải thích (ngụy biện)…”
–
“Á hắt xì! Á hắt xì! Á hắt xì!” Y Lam hắt hơi liền ba cái, xoa xoa mũi, kỳ quái nói: “Sao thế này? Ai đang nhắc tới con vậy?”
Ngồi đối diện nàng, Tạ Ngọc Phù nghiêm mặt nói: “Không được đánh trống lảng. Ta hỏi con, vị Lưu công tử ở huyện bên cạnh kia, con định xử lý thế nào? Người ta sắp mắc bệnh tương tư rồi kìa!”
Y Lam một bộ thờ ơ: “Xử lý gì đâu. Hắn mắc cũng chẳng phải bệnh tương tư, chỉ là nửa đêm bị ta dẫn lên núi dọa cho một trận, còn tưởng con là yêu tinh si tình, muốn quấn hắn cả đời cả kiếp ấy chứ, ha ha ha ha!”
Tạ Ngọc Phù sốt ruột: “Con không thích hắn nữa sao? Tháng trước con còn nói thư sinh rất thú vị kia mà.”
Y Lam nghiêm mặt đáp: “Tháng trước con thấy thư sinh thú vị, thì liên quan gì tới con của tháng này?”
Tạ Ngọc Phù: “……”
Y Lam dịu giọng an ủi bà: “Nương tử cứ yên tâm, vị Lưu công tử kia phong lưu lắm, qua vài ngày bệnh của hắn tự khắc khỏi thôi. Con sẽ không ra tay với người thật thà đâu. Chỉ để hắn nếm chút khổ sở, sau này ắt sẽ biết trân trọng những tiểu nương tử tính tình ôn hòa.”
Cái gọi là đạo tặc cũng có đạo của đạo tặc, nàng xưa nay chỉ tìm những lang quân hiểu quy củ để trêu đùa, tiện thể thay trời hành đạo đôi lần. Đợi đến khi không còn tiêu khiển nổi nữa, nàng sẽ nhận nuôi vài đồ đệ, an an ổn ổn sống đến tuổi già.
Chỉ mong vị đại quan họ Bùi kia đừng quá hồ đồ, mọi người tụ tán có chừng mực, đừng gây thêm phiền toái cho Hội Hội.
–
Phía nam U Châu, trong tòa trạch viện lớn nhất của một tiểu thành nào đó.
Trong nghị sự đường, bầu không khí nặng nề, trên mặt mỗi người đều như đè một tầng mây đen.
Chử Thừa Cẩn ngồi cao trên chủ vị, cao giọng quát hỏi: “Đừng giả câm giả điếc nữa, mau hiến kế cho bản vương xem, tiếp theo nên làm thế nào?”
Một vị quốc công họ Chử tiến lên nói: “Hay là chúng ta rút quân hồi triều đi. Dù sao Đường Nghĩa Phương cũng sắp bình định xong phản quân rồi.”
Chử Thừa Cẩn chộp lấy chén trà ném thẳng tới, mắng to: “Đồ ngu! Đánh thắng trận rồi gọi là ban sư hồi triều, còn chúng ta một trận chưa đánh đã xám xịt quay về, đó chẳng phải là trò cười sao?!”
Một vị quận công họ Chử khác dè dặt nói: “Nhưng… Dĩnh Xuyên quận vương đã chết, vậy ai sẽ thống lĩnh quân đội đây?”
Chử thị vốn chẳng phải thế gia lập nghiệp bằng quân công.
Trong lần loạn thế trước, chỉ lác đác vài người trong tộc Chử thị từng tòng quân, người xuất sắc nhất chính là phụ thân của Nữ hoàng. Từ buôn bán ngựa và gỗ, đến việc đầu quân cho phụ thân của Văn Đức hoàng đế, cuối cùng được trọng dụng, nhận được một quan nửa chức, tích góp không ít gia sản.
Đến đời này, trong tộc Chử thị chỉ có Dĩnh Xuyên quận vương Chử Duy Cẩn từng cầm quân đánh trận. Dẫu chiến tích chẳng nhiều, lại đối đãi dân chúng tàn bạo đôi phần, nhưng cũng coi như hung danh vang dội bên ngoài.
Chử Thừa Cẩn nghiến răng: “Chi bằng ta tự mình ra trận!”
Thế tử Chử Khánh Ân kinh hãi biến sắc: “Phụ vương tuyệt đối không thể! Đao thương không có mắt, phụ vương là thân thể ngàn vàng, sao có thể dễ dàng mạo hiểm!”
Các tộc nhân Chử thị cùng đám mưu sĩ cũng đồng thanh khuyên can.
Chử Thừa Cẩn trở nên bực bội: “Lệ Quốc Trung đã chết, Vạn Đại Vinh trọng thương, dưới tay chỉ còn mấy nghìn tàn binh bại tướng. Vòng vây của Đường Nghĩa Phương ngày càng siết chặt, mắt thấy sắp bắt gọn cả bọn, lẽ nào chúng ta chỉ đứng nhìn?”
Theo đề nghị của Bùi Thứ Chi, lúc này chính là thời cơ xuất binh tốt nhất, vậy mà đúng vào thời khắc then chốt này, Chử Duy Cẩn lại bị ám sát chết, hơn nữa còn chết thảm vô cùng!
Chử Thừa Cẩn chỉ tay vào mấy tộc nhân mặc giáp đeo đao, lần lượt hỏi: “Hay là ngươi lên? Ngươi lên? Ngươi chẳng phải luôn khoe mình bách bộ xuyên dương sao, ngươi đi đi?”
Ngón tay lão ta chỉ đến ai, người đó liền lộ vẻ khó xử, liên tục xua tay.
“Phụ vương chớ nóng!” Đúng lúc ấy, Chử Khánh Nghĩa trong bộ giáp trụ đầy đủ, hùng dũng bước vào nghị sự đường, “Nhi thần nguyện thay phụ vương thống lĩnh quân đội, xông pha trận mạc, lập quân công cho phụ vương!”
Chử Thừa Cẩn bực bội quát: “Con đừng có hồ đồ! Người đâu, mau kéo lão nhị ra ngoài cho ta!”
Một vị mưu sĩ họ Trương bỗng mở miệng: “Đại vương xin chậm đã, hạ quan cho rằng lời của Bành Thành quận vương chưa hẳn là không có đạo lý.”
Chử Thừa Cẩn trừng mắt mắng: “Đã nói rồi đao thương không có mắt, ngươi muốn hại chết con ta sao?!”
Mưu sĩ họ Trương nói: “Đại vương, phú quý cầu trong hiểm cảnh! Đại vương đức cao vọng trọng (bịa đặt điềm lành), công lao vất vả (hãm hại trọng thần), chỉ còn cách ngôi Trữ quân đúng một bước. Phản quân lúc này đã chẳng còn mấy hơi thở, thời điểm này không ra tay, đại vương lấy gì tranh đoạt ngôi Trữ vị?”
Chử Thừa Cẩn lập tức cứng họng.
Chử Khánh Ân cũng không muốn: “Nhị đệ tuổi còn nhỏ, lỡ có chuyện gì… mẫu phi, mẫu phi… chi bằng để ta đi còn hơn!”
— Lời thì nói vậy, nhưng mọi người nhìn bộ nho bào và mũ tiến sĩ trên người y, trong lòng đều lặng lẽ lắc đầu.
Chử Khánh Nghĩa lớn tiếng nói: “Phụ vương, con không sợ! Phụ vương là thân thể ngàn vàng, huynh trưởng lại là người đọc sách, chỉ có con ra trận là thích hợp nhất! Phụ vương quên rồi sao, con từng theo thúc phụ Duy Cẩn ra khỏi thành diệt phỉ rồi mà!”
Thấy tâm tư Lương Vương dần lung lay, một mưu sĩ họ Lý khác cũng lên tiếng khuyên nhủ: “Kỳ thực chuyện này nhìn thì hung hiểm, chưa hẳn đã thật sự nguy hiểm. Cho dù để Bành Thành quận vương thống lĩnh quân đội, lẽ nào lại có người thật sự để quận vương thân mình hứng tên đạn sao?”
Mắt Chử Thừa Cẩn sáng lên: “Ý của ngươi là…?”
Mưu sĩ họ Lý đáp: “Dĩnh Xuyên quận vương tuy đã chết, nhưng những tướng lĩnh dưới trướng ông ta vẫn còn nguyên. Mấy vị thiên tướng ấy theo Dĩnh Xuyên quận vương chinh đông phạt tây, vừa trung thành đáng tin, lại hiểu việc bày binh bố trận. Bành Thành quận vương chỉ cần cưỡi ngựa theo bên cạnh, làm dáng một chút là được.”
Những tộc nhân Chử thị khác cũng bừng tỉnh, nhao nhao khuyên can.
“Huynh trưởng, lời này rất có lý! Đây đúng là miếng thịt béo đưa tới miệng rồi!”
“Khánh Nghĩa hiếu tâm đáng khen, lại tinh thông cung mã, ta thấy được.”
“Những ngày xuất chinh này, chúng ta đã tiêu tốn không ít lương thảo quân phí, nếu tay trắng trở về, đám hỗn trướng kia chẳng phải sẽ liều mạng dâng tấu đàn hặc hay sao!”
“Ta còn nghe nói tàn binh phản quân đều không muốn đánh nữa, lỡ đâu bọn chúng đầu hàng Đường Nghĩa Phương, vậy chẳng phải tất cả đều uổng công sao!”
Mưu sĩ họ Trương lại tiến lời: “Đại vương có thể trước tiên triệu kiến mấy vị thiên tướng kia, bàn bạc việc xuất binh. Đợi mọi chuyện thương nghị xong xuôi, đại vương tọa trấn hậu phương, Bành Thành quận vương lĩnh quân xuất chinh, mấy vị thiên tướng hộ vệ trái phải. Như vậy, vạn vô nhất thất.”
Mưu sĩ họ Lý tiếp lời: “Đại vương, cơ hội không thể bỏ lỡ! Đợi khi tiêu diệt phản quân, chém được đầu Vạn Đại Vinh, đại vương chính là người lập công lớn nhất trong lần bình loạn này! Bệ hạ ắt còn phải long trọng bày tiệc khánh công cho đại vương!”
Chử Khánh Nghĩa mặt mày cuồng nhiệt: “Phụ vương, tiến thêm một bước, người là kẻ đứng dưới vạn người; lùi lại một bước, chẳng phải tiện nghi hết cho họ Lệ hay sao!”
Chử Thừa Cẩn cuối cùng hạ quyết tâm, vỗ đùi nói: “Được, cứ làm như vậy!”
Tác giả có lời muốn nói:
PS: Đừng thấy nhà họ Chử làm việc có vẻ qua loa. Mọi người thử đi xem cách bố trí quân sự trong trận Thổ Mộc Bảo, Vương Chấn làm việc cứ như đùa giỡn, gọi là gánh hát cỏ còn làm nhục cả dân quê. So ra mà nói, Lương Vương của chúng ta đã là rất thận trọng rồi.
—
PPS: Về cách xưng hô “Ông”. Điều này giống như một đứa trẻ vài tuổi, gọi ông nội của mình là “ông”, gặp một ông lão xa lạ cũng sẽ gọi là “ông” hoặc “ông già”. Nhưng nếu là thiếu niên mười mấy, hai mươi tuổi, dù gặp người già cũng thường sẽ không gọi là “ông già”. Vì vậy, nữ chính không muốn gọi “Ông”, là vì không muốn tỏ ra mình vẫn chỉ là một đứa trẻ.
Rất nhiều cách xưng hô thời cổ đại tuy hiện nay đã ít dùng, nhưng ở không ít vùng phía nam vẫn còn lưu lại dấu vết, ví dụ như ở Hồng Kông, thường có thể nghe con dâu nói “gia ông thế này thế kia”. “Gia ông” ở đây chính là ý “cha chồng nhà tôi”.
HOA ĐÔ – CHƯƠNG 33
Chương 33: Cô đang trốn ai – Về phòng cô đi
*
Văn Hòa cảm thấy đầu óc mình đã không còn dùng đủ nữa. Về Chu Minh Sơ, khi cô đã đưa ra kết luận về anh thì đột nhiên lại phát sinh thêm một chuyện như thế này, xé toạc một góc kết luận ấy. Thoạt nhìn thì không quá rõ ràng, nhưng lại không thể làm ngơ.
Thế nên anh lại trở nên phức tạp thêm lần nữa, khiến cô đau đầu.
May mà cô còn có công việc, lại không cần ngồi cố định ở công ty; khi không nhìn thấy người này, căn bản cũng sẽ không nghĩ đến những chuyện ấy.
Thứ Sáu đi lắp máy, trên đường Văn Hòa nhận được cuộc gọi của Cốc Chí Đức, hẹn cô cùng tham gia một hoạt động.
Cốc Chí Đức nói: “Tôi nghe A Châu kể rồi, hôm đó nếu không tình cờ gặp cô quen biết, e là cũng chẳng có ai cứu cô ấy.”
Văn Hòa rất bất ngờ, vội vàng định từ chối, nhưng Cốc Chí Đức lại cười nói: “Cô cứu bạn gái tôi, thế nào cũng phải cho tôi một cơ hội báo đáp chứ.”
Giọng điệu anh ta rất thành khẩn, thái độ cũng khiến người ta khó mà từ chối, Văn Hòa chỉ đành xác nhận thời gian địa điểm với anh ta, nói đến lúc đó sẽ qua.
Bệnh viện vừa hay là Nam Tế, đúng khoa của Hùng Mỹ Nghi. Văn Hòa bị chị ta kéo lại nói chuyện rất lâu, lại còn bị hỏi có phải đang yêu bác sĩ ngoại khoa của bệnh viện bọn họ hay không.
Người được nhắc đến dĩ nhiên là Lương Côn Đình.
Vị y tá trưởng ấy nói: “Bác sĩ Lương rất được đấy, người lại đẹp trai hài hước, không ít y tá trẻ trong viện thích tìm cậu ấy nói chuyện. Cô phải tranh thủ lên, đừng để người ta chạy mất.”
Văn Hòa không tiếp lời nhiều, cười cho qua chuyện.
Cô đương nhiên biết Lương Côn Đình tốt, nhưng một người đàn ông kiên trì không bỏ cuộc, chuyện gì cũng chu đáo, dáng vẻ như không có cô thì không được, lại khiến cô nhớ đến Dương Vũ năm đó.
Hơn nữa, tổ hợp bác sĩ nam với nhân viên bán hàng nữ, dù phóng to trong bất kỳ vòng tròn nào cũng là kiểu khiến người ta hiểu ngầm mỉm cười. Thanh giả tự thanh thì nghe hay đấy, nhưng áp lực đều là của chính mình.
Cô không muốn vì chuyện tình cảm mà trở thành đề tài bàn tán của người khác thêm lần nào nữa.
Khi ngồi thang máy xuống dưới, Văn Hòa vẫn mãi nghĩ xem có nên tiện đường đi thăm Lư Tĩnh Châu hay không, không biết cô ấy còn ở bệnh viện không.
Lại nghĩ đến Chu Minh Sơ. Quan hệ giữa anh và cô em kế này quả thật không tốt, hôm đó đến bệnh viện cũng chỉ ký tên hỏi qua tình hình, ngoài ra không thấy anh làm gì khác. Đối với Lư Tĩnh Châu, anh dường như cũng chỉ tốt hơn người xa lạ một chút mà thôi.
Còn Lư Tĩnh Châu thì có đôi mắt đen láy, lúc nào bạn cũng có thể vô tình phát hiện cô ấy đang nhìn mình, rồi mỉm cười với bạn.
Rõ ràng là một người rất thích cười, lúc cười lên rất xinh đẹp, thậm chí là động lòng người. Chỉ là mỗi lần cô ấy cười với Văn Hòa, Văn Hòa đều cảm thấy nụ cười ấy có gì đó rất kỳ quái, khiến người ta không thoải mái khắp người.
Đúng như Mao Lộ Lộ nói, cả nhà Chu Minh Sơ đều chẳng bình thường mấy.
Ra khỏi thang máy, Văn Hòa vẫn quyết định không đi thăm Lư Tĩnh Châu. Cô cầm tờ giấy chuẩn bị sang phòng thiết bị, lại nhìn thấy hai người quen, một là Lương Côn Đình, một là Đinh Thải. Hai người đứng đối diện nhau, mắt Đinh Thải đỏ hoe rõ ràng là đã khóc, tư thế của Lương Côn Đình cũng căng cứng, người như dựng thẳng ở đó, bất động.
Anh cúi đầu nhìn Đinh Thải, không biết nói câu gì, Đinh Thải liền che mắt ngồi thụp xuống. Lương Côn Đình dường như muốn đỡ cô ấy, nhưng vừa nhích một bước thì đã nhìn thấy Văn Hòa.
Văn Hòa vốn còn lưỡng lự không biết có nên qua chào hỏi hay không, lúc này chỉ đành đi tới, cúi đầu nhìn Đinh Thải: “Không sao chứ?”
Đinh Thải dáng người nhỏ nhắn, ngồi xổm trên đất trông rất khiến người ta xót xa. Cô ấy ngẩng khuôn mặt đầy nước mắt lên, Văn Hòa lấy khăn giấy đưa qua: “Lau đi.”
Đinh Thải nghẹn ngào nói lời cảm ơn, áp khăn giấy lên mắt, một lúc sau mới chậm rãi đứng dậy, miễn cưỡng mỉm cười với Văn Hòa: “Cô đến thăm bác sĩ Lư à?”
Văn Hòa nói: “Tôi có việc phải chạy qua đây.”
Đinh Thải gật đầu, có lẽ căn bản không nghe thấy cô nói gì, ánh mắt vô thức nhìn về phía Lương Côn Đình, nhưng lại có chút không dám nhìn anh. Cuối cùng cô ấy nhỏ giọng nói: “Tôi còn việc, đi trước đây.” Cũng không biết là đang nói với ai.
Văn Hòa nhìn theo cô ấy rời đi, lại liếc nhìn Lương Côn Đình với biểu cảm có phần phức tạp, rồi cũng quay người đi nghe điện thoại.
Cuộc gọi là của Tinh Tinh, hỏi cô ngày mai định nấu món gì, để còn cho người chuẩn bị nguyên liệu trước.
Văn Hòa nói: “Nhà mình có một hũ tương bò, mới làm xong, mình mang cái đó theo thì có thể không nấu món khác không?”
Tinh Tinh nói không được: “Tương bò phải mang, món cũng phải nấu. Cậu mà không báo món, mình ghi thẳng cá quế thối cho cậu luôn.”
Văn Hòa sợ giết cá, vội vàng báo thêm một món khác. Nói xong điện thoại, cô phát hiện Lương Côn Đình vẫn còn ở đó. Dáng anh đứng trông có chút bồn chồn, giống như rất muốn hút thuốc.
Văn Hòa xoay người định đi sang phòng thiết bị, Lương Côn Đình đuổi theo kéo cô lại. Văn Hòa giơ giơ tờ giấy trong tay: “Tôi phải sang phòng thiết bị ký tên, sợ bọn họ tan làm mất.”
Lương Côn Đình giải thích: “Người vừa rồi đó, là bạn gái cũ của tôi.”
Văn Hòa nói: “Tôi có hỏi đâu.”
Lương Côn Đình thở dài: “Cô cứ hỏi một câu đi, tôi thà cô hỏi một câu, hỏi thêm hai câu cũng được, đừng để tôi mất mặt thế này.”
Anh mang vẻ bất lực, rất khác với dáng vẻ cà lơ phất phơ hay nghiêm túc thường ngày. Văn Hòa đành nói: “Có người yêu cũ là chuyện rất bình thường…” Cô khẽ xoay xoay cánh tay: “… tôi cũng có.”
Lương Côn Đình nhìn cô một lúc, buông tay ra hỏi: “Cô quen cô ấy à?”
Đinh Thải ư, Văn Hòa nói: “Lần trước anh cứu người đó, là cấp trên của chị ấy.” Cô đoán bọn họ còn chưa kịp nói những chuyện này, trong lúc lúng túng lại có chút sốt ruột: “Tôi thật sự phải đi rồi, không thì lại phải đợi lần sau.” Nói xong, cô liền vội vã đi ký tên.
May mà lần này ký tên vẫn thuận lợi, không giống một số bệnh viện khác, ký cái tên xin chút tiền mà cứ như cầu xin ông lớn, Diêm Vương tiểu quỷ tầng tầng cửa ải.
Lại nghĩ đến nhà phân phối ở Hà Bắc của mình, bệnh viện hạng ba tuyến trên tuy khó làm, nhưng thu hồi tiền tương đối sòng phẳng; không như mấy bệnh viện nhỏ nợ xấu nhiều, bày ra cho bạn cái thanh toán ba năm, chút tiền thì năm nào cũng kéo, có không ít đại lý nhỏ chính là bị kéo chết như vậy.
Ra ngoài nghỉ lấy hơi, Văn Hòa nhận được tin nhắn của Lương Côn Đình, hỏi cô khi nào về quê, nói sẽ đưa cô ra ga cao tốc.
Văn Hòa lại bị gợi nhớ đến chuyện anh và Đinh Thải.
Bề ngoài Lương Côn Đình không biểu lộ gì, nhưng bàn tay nhét trong túi hẳn là chẳng hề bình tĩnh như vẻ mặt của anh. Nói cuộc gặp lại này không hề gợn sóng, Văn Hòa không tin lắm.
Hôm sau đến Huệ Châu team building, thuê một căn biệt thự rất lớn.
Khắp nơi đều có người tản ra, đánh bóng, đánh mạt chược, chơi PS5. Văn Hòa cũng chơi một lát board game, lúc đứng dậy thì thấy bên ngoài có mấy người đàn ông đang hút thuốc, trong đó có Vương Đông Ni mũi còn dán băng keo, và Chu Minh Sơ đang nghịch bật lửa.
Châm thuốc xong, bật lửa xoay qua xoay lại trong tay, dường như là thói quen của anh. Lúc này ngồi thành một đám, mấy người đàn ông cũng không biết đang nói chuyện gì. Chu Minh Sơ vừa gạt tàn vừa nói, Vương Đông Ni sững lại một chút, dường như cười mắng một câu chửi thề nào đó, trông quan hệ với Chu Minh Sơ cũng không tệ.
Văn Hòa nhìn thời gian, đi về phía bếp.
Món của cô khá đơn giản, miến khoai lang trộn xong thì cho vào chảo phẳng, rán thành bánh rồi để nguội.
Nam đồng nghiệp bên cạnh đang ướp thịt bò hỏi: “Cái này làm gì vậy?”
“Viên bột khoai.” Văn Hòa nói, “Để nấu cùng thịt ba chỉ.”
Trương Nhĩ Trân liếc nhìn một cái, nói: “Chỗ bọn chị cũng có món này.”
Chị là người Trùng Khánh, hôm nay lại định hầm canh. Gói gia vị canh tự mang được chị cho vào nồi, thấy Tinh Tinh xách một túi oxy đến, liền hỏi: “Cái gì vậy?”
“Lươn, vừa mới giao tới.” Tinh Tinh mở bao bì, đổ vào bồn rửa. Mấy con lươn ở trong đó nhảy loi choi, rất nhanh đã bật từ bồn rửa xuống sàn, uốn éo, thân dài, trơn tuột, khiến người ta dựng cả lông tơ.
“Đệt!” Nam đồng nghiệp vừa nãy ướp thịt bò bị dọa đến văng tục, nữ đồng nghiệp bên cạnh càng thất sắc: “Mẹ ơi!”
Văn Hòa đứng ngay cạnh bồn rửa, sợ đến mức không thốt ra được lời nào. Các đồng nghiệp khác đã hét lên: “Chu Tinh Tinh! Bắt lại đi!”
Tinh Tinh nào dám bắt, cô từng xé thịt lươn rồi, nhưng lươn sống hung hãn thế này thì chưa từng xử lý. Nhìn mấy thứ quấn lấy nhau đó, chân cô cũng mềm nhũn ra.
Một đám người trong bếp la hét như gặp ma, Chu Minh Sơ đi vào nhìn một cái, nhặt mấy con lươn kia ném lại vào bồn rửa, hỏi những người vừa bị dọa mất nửa cái mạng: “Làm món gì?”
Tinh Tinh nuốt nước bọt, nói: “Lươn… cơm lươn.”
Chu Minh Sơ chọn một con dao trên giá, ấn lươn xuống thớt, ngón tay cố định phần đầu cổ, tay còn lại rạch một đường thẳng tới bụng, lọc xương xong cho vào chậu tráng qua máu, động tác gọn gàng dứt khoát.
Tinh Tinh cuối cùng cũng hoàn hồn, qua xem xương lươn đã tách ra: “Tổng giám đốc Chu sao lại biết mổ lươn vậy?”
“Lúc học giải phẫu từng dùng cái này để luyện tay.” Chu Minh Sơ mở vòi nước rửa tay, rửa xong nhìn thấy chiếc bánh của Văn Hòa: “Cái này là gì?”
“Viên bột khoai.” Văn Hòa thấy anh cứ xả nước mãi, không thấy nước rửa tay, liền đưa cho anh chai nước rửa chén.
Chu Minh Sơ xòe tay để cô bóp cho một ít, lại hỏi về món đó: “Đây là bánh à?”
Văn Hòa lắc đầu: “Không phải, cái này lát nữa phải cắt thành miếng.”
Các đồng nghiệp khác cũng phát hiện có gì đó không ổn: “Cắt thành miếng mà gọi là viên à?”
Cái này giải thích thế nào đây, Văn Hòa chỉ đành nói khẽ: “Bên tôi quen gọi như vậy, tất nhiên cũng có thể vo thành viên tròn, chỉ là hơi phiền.”
Chu Minh Sơ mở vòi nước xả bọt, xả xong vẫn ngửi thấy mùi tanh trên người, lau tay rồi rời khỏi bếp.
Đến lúc ăn cơm, anh đã thay sang một bộ đồ khác, áo thun chữ đơn giản với quần casual, cánh tay lộ ra bên ngoài. Văn Hòa nhớ đến cái vẻ hung hăng của anh khi đánh bóng, lại nhớ đến việc anh với vị Tổng giám đốc Diệp kia hẳn là quan hệ cạnh tranh.
Bây giờ nghĩ lại, trận bóng đó cũng giống như một ẩn dụ, nhất là khi Chương Như còn nói một câu “làm sales”.
Rồi trận bóng ấy bọn họ thua.
Đến giờ ăn, tất cả đều ở đại sảnh. Canh của Trương Nhĩ Trân hầm hai nồi lớn, có người hỏi: “Chị Trân sao không làm món Trùng Khánh?”
Trương Nhĩ Trân nói: “Món Trùng Khánh có đậu phụ nướng não heo, cậu ăn không?”
“Trời ơi! Khẩu vị nặng thế.”
Đồ ăn thức uống bày kín cả bàn, có đồng nghiệp ăn được viên bột khoai hỏi: “Ai làm món này vậy?”
Văn Hòa nhìn thấy, đáp: “Tôi làm.”
“Tay nghề được đấy, bình thường ở nhà tự nấu ăn à?”
Văn Hòa gật đầu: “Có thời gian là tôi tự nấu.” Cô thích mày mò chuyện ăn uống, nấu nướng đối với cô mà nói cũng xem như một cách thư giãn.
Đối diện có một nam đồng nghiệp gương mặt hiền lành cười với cô: “Văn Hòa thật đảm đang, ai tìm cô làm bạn gái thì có lộc ăn rồi.”
Lập tức có người cao giọng nói: “Đừng có thăm dò nữa lão chó, mày vừa mới ly hôn, người ta trẻ đẹp thế này sao có thể để ý tới mày!” Vừa dứt lời, lại kéo theo một tràng cười ha hả.
Văn Hòa cũng không thấy bị mạo phạm gì. Bây giờ cô cũng không còn vì người ta đùa một câu mà đỏ mặt, chỉ là đứng thẳng người liếc qua đỉnh đầu dày rậm của vị đồng nghiệp kia, cô dám chắc đó là tóc giả.
Người đông, ngoài đồ xào còn có lẩu và đồ nướng, không ít người bưng bát đi qua đi lại, mồm năm miệng mười, náo nhiệt vô cùng. Hôm nay người có hứng nhất là Tinh Tinh, tuy vừa nãy bị lươn dọa mất vía, nhưng nhìn mọi người nói cười rôm rả, cô vẫn cảm thấy rất thỏa mãn.
Ăn xong thì phải dọn dẹp, nhưng những người tham gia nấu ăn có thể phủi mông đi thẳng.
Văn Hòa thuộc nhóm có thể phủi mông đi thẳng đó. Cô cùng Tinh Tinh và Trương Nhĩ Trân tản bộ ra bờ biển. Chỉ cần một chút ánh đèn, đêm ven biển liền trở nên lãng mạn và yên tĩnh. Tinh Tinh nói nơi này bên bộ phận thu mua từng tới, hiệu quả hoạt động khá tốt.
Gió biển từng đợt từng đợt thổi tới. Ba người ngồi trên bãi cát, vùi chân vào cát. Con người khi thả lỏng thì dễ nảy sinh nhu cầu giãi bày, Tinh Tinh cảm thán rồi nhắc đến Chương Như.
Đều là HRBP, cô còn làm công việc này sớm hơn Chương Như, vậy mà Chương Như lại có thể trong thời gian ngắn xoay chuyển được quan hệ với bên thu mua. Trước kia bộ phận thu mua cũng là ai không để ý ai, có chút mâu thuẫn là cãi nhau đến đỏ mắt tía tai.
Tinh Tinh có phần chán nản, hỏi Trương Nhĩ Trân: “Chị Trân, chị nói xem có phải là em thật sự không được không?”
Trương Nhĩ Trân suy nghĩ rồi nói: “Em thấy nguyên nhân cũng nhiều lắm. Tình hình bên mình với bên thu mua không giống nhau. Chỉ nói đến người đứng đầu thôi, em xem Tổng giám đốc Diệp với Tổng giám đốc Chu, tính cách của hai người có khác nhau nhiều không?”
“Đúng đúng.” Tinh Tinh gật đầu lia lịa: “Khác xa lắm.” Tổng giám đốc Diệp rõ ràng thuộc kiểu có thể bàn bạc dễ dàng, ủng hộ hết mình; không giống Chu Minh Sơ, cô đề xuất sang đây thuê villa tổ chức tiệc nấu ăn, anh chỉ ném lại một câu “cô tự quyết”, còn muốn bàn với anh dù chỉ một chút chi tiết thôi anh cũng tỏ ra không kiên nhẫn.
Trương Nhĩ Trân cười một cái: “Em cứ coi Tổng giám đốc Chu là đang phân quyền, là phân quyền cho em, tùy em muốn làm thế nào thì làm.”
Chị ấy rất giỏi, chỉ một hai câu đã khai thông cho Tinh Tinh. Văn Hòa ngồi bên cạnh nghe, cũng rất tán đồng cách nói đó.
Chu Minh Sơ tính cách thẳng thắn, Văn Hòa cũng đã sớm lĩnh giáo. Hồi đó cô ở quầy lễ tân, đôi khi giúp anh nhận chuyển phát nhanh hay gì đó, anh trực tiếp bảo cô để đó. Còn chuyện ai gửi tới, người ta nhắn gửi lời gì, cô thuật lại mấy câu thôi cũng cảm thấy như đang làm phiền anh.
Anh lúc nào cũng bận, dường như đến thời gian nghe cô nói hai câu cũng không có. Ban đầu cô cũng rất khó chịu, nhưng sau đó tự đổi cách làm: trực tiếp viết lời nhắn thành giấy note dán lên trên, rồi gửi thêm cho anh một lượt qua OA. Dù anh có trả lời hay không, cô làm xong việc của mình là được.
Chỉ cần đừng nghĩ anh là lười để ý tới mình, cố gắng dùng cách khiến bản thân thoải mái nhất để lý giải, sẽ dễ chịu hơn rất nhiều… khi đó Văn Hòa đã tự an ủi mình như vậy.
Gió biển thổi, chuyện phiếm trò chuyện. Đồng nghiệp ra ngoài dạo mát cũng nhiều hơn. Trương Nhĩ Trân quay về gọi video với con ở nhà, Văn Hòa tiếp lời cô ấy an ủi Tinh Tinh.
Cô nhìn ra được Tinh Tinh rất muốn làm tốt công việc. Như lần này mọi người cùng nhau nấu ăn dùng bữa, hiệu quả là có, nhưng muốn chỉ bằng một hoạt động đã khiến tất cả trở nên thân thiết thì thật ra không thực tế. Hơn nữa, các nhân viên sales ít nhiều đều có quan hệ cạnh tranh, cũng không cần thiết phải quá thân. Các lãnh đạo hẳn cũng không thích một bầu không khí quá hòa thuận.
Tinh Tinh chớp chớp mắt: “… cũng đúng.” Ví dụ như Chu Minh Sơ, chỉ cần không chạm tới ranh giới của anh, tùy cô đấu thế nào cũng được.
Tiêu Tiêu chính là một ví dụ rất điển hình.
“Hầy…” Tinh Tinh ngả người ra sau thành hình chữ đại. Văn Hòa hỏi: “Về không?”
Tinh Tinh nói: “Mình ngồi thêm chút nữa, không muốn động.”
Văn Hòa cảm thấy người mình dính mùi dầu khói, tóc cũng bị gió biển thổi rối, cô đưa tay cào cào tóc: “Vậy mình về trước tắm đây.”
Trên đường về người thưa thớt, đồng nghiệp phần lớn đều ở bờ biển hoặc trong villa chơi đùa. Văn Hòa vừa đi vừa dùng tay chải cho tóc suôn lại, đột nhiên thấy phía cửa sau có bóng người. Tò mò thúc đẩy cô đi theo, nhưng vừa thò cổ nhìn một cái, cô lập tức lùi lại.
Lùi thêm hai bước, liền đụng phải Chu Minh Sơ.
Anh mặc nguyên một thân đen, đứng sừng sững ở đó, không để ý là sẽ va phải ngay. Văn Hòa bị anh dọa cho một phen hồn vía lên mây: “Tổng giám đốc Chu.”
Chu Minh Sơ thấy cô đi đường như ăn trộm, hỏi: “Cô trốn ai?”
Văn Hòa lắc đầu, chỉ về phía sau: “Tổng giám đốc Vương ở bên đó.”
Chu Minh Sơ cau mày hỏi: “Anh ta theo cô à?”
“Không phải…” Văn Hòa nhỏ giọng nói: “Còn có người khác.”
Cách đó không xa, chỉ là bên hồ cá sau mấy bậc đá nhỏ, đi hai bước là có thể nhìn thấy người bên kia. Ngoài Vương Đông Ni ra, còn có một Kim Linh.
Vương Đông Ni muốn hút thuốc, Kim Linh ném cho anh ta một điếu. Lúc châm lửa cô ta bật lửa khá lớn, ngọn lửa suýt nữa thì liếm tới lông mày của Vương Đông Ni, làm anh ta giật mình lùi lại. Kim Linh vỗ cái bật lửa lên ngực anh ta, Vương Đông Ni cũng không tức giận, cười rồi giữ tay cô ta, chậm rãi kéo xuống dưới.
Hai người này đang tán tỉnh nhau.
Văn Hòa liếc nhìn Chu Minh Sơ, anh bày ra vẻ sóng yên gió lặng, còn cúi đầu hỏi: “Cô rất sợ Vương Đông Ni à?”
Văn Hòa đành nói: “Loại người như anh ta, phụ nữ nào mà chẳng sợ.” Cô biết cách mình từ chối Vương Đông Ni khi đó không hề khéo léo, nên mới khiến anh ta nổi giận vì xấu hổ. Vì vậy tối hôm đó anh ta cố tình hỏi cô có ghi âm hay không, cũng cố tình dùng tàn thuốc châm vào cô.
Nhưng những lời đó, Dương Vũ đã nói với anh ta từ khi nào, trong hoàn cảnh nào, nghĩ đến những chuyện này, Văn Hòa vẫn thấy hơi khó thở.
Chu Minh Sơ cảm nhận được cơ thể cô lạnh toát, nhìn cô định nói gì đó, lại nghe cô nói trước một câu: “Tổng giám đốc Cốc nói muốn giới thiệu đơn cho tôi.”
“Cốc Chí Đức?”
“Ừ.” Văn Hòa kể sơ qua nội dung cuộc gọi với Cốc Chí Đức, cũng xem như báo lại với anh, muốn xem phản ứng của anh ra sao. Dù sao quan hệ cũng phức tạp, vừa là đối thủ, lại dính dáng chút quan hệ cá nhân.
Nhưng thái độ của Chu Minh Sơ rất bình thản: “Giới thiệu thì cứ đi, không cần phải khách sáo với anh ta.”
Văn Hòa ngẩng đầu nhìn anh, rồi chợt nghĩ đến chuyện của Lư Tĩnh Châu: “Người bị bắt đó, Tổng giám đốc Chu có quen không?” Cô nghi ngờ là anh thậm chí còn không để ý cụ thể là ai đánh người.
Quả nhiên Chu Minh Sơ hỏi: “Trông thế nào?”
Văn Hòa nhớ lại: “Trông sạch sẽ, nho nhã lịch sự, còn thắt cà vạt. Dù sao thì… nhìn thế nào cũng không giống phần tử bạo lực.”
“Phần tử bạo lực không viết chữ ‘bạo lực’ lên mặt. Có lúc càng là cặn bã thì càng đạo mạo, càng là tiểu nhân thì càng thích giả vờ thân thiện. Nếu không thì cảnh sát chỉ cần dựa vào vẻ ngoài mà bắt người là được rồi, còn điều tra làm gì?” Giọng Chu Minh Sơ nói bằng giọng không mặn không nhạt: “Giả vờ thì không khó, khó ở chỗ có mắt, dùng mắt để nhìn người.”
Văn Hòa bỗng ngậm miệng lại, không nói gì nữa.
Chu Minh Sơ khựng lại một chút, đột nhiên bước lên trước mấy bước, bỏ lại một câu: “Về phòng cô đi.”
Văn Hòa bị anh chắn lại, rất nhanh đã nghe thấy giọng của Vương Đông Ni. Cô không kịp nghĩ nhiều, quay đầu chạy thẳng, chạy lên lầu rồi mới phản ứng ra ý nghĩa đằng sau hành động đó của anh.
Cô lại nhớ đến lời Tinh Tinh nói. Người lúc trước đưa Dương Vũ vào tù chính là Chu Minh Sơ, nhưng điều đó thì có thể đại diện cho cái gì? Hay là giữa anh và Dương Vũ có ân oán cá nhân gì?
Văn Hòa hồi tưởng lại, dường như không nhớ mình từng nghe Dương Vũ nhắc đến Chu Minh Sơ. Số lần anh ta nhắc đến Chu Minh Sơ cũng rất ít, nhiều nhất chỉ nói một câu sales bên đó có ông sếp cao lớn, cứng nhắc, khó tiếp xúc.
Cô thực sự không nghĩ ra cũng không hiểu nổi, liền tạm thời không nghĩ nữa.
Sau buổi team building trở lại công ty làm việc, các danh sách của đại hội kênh đã được công bố. Người dẫn chương trình cuối cùng được chọn là Kim Linh. Còn vì sao cô ta có thể vượt qua các đồng nghiệp kỳ cựu, giàu kinh nghiệm và tư cách, nghe nói là lãnh đạo muốn một gương mặt trẻ trung mới mẻ.
Gương mặt trẻ trung mới mẻ, Tinh Tinh quay sang nhìn Văn Hòa ngay: “Cậu đáng lẽ phải đăng ký, cậu xinh hơn, cao hơn cô ta. Nói như vậy thì cậu hợp hơn nhiều.”
Văn Hòa cười cười, cúi đầu thu dọn đồ đạc để đi tham gia kỳ thi.
Thiết bị y tế là một ngành giao thoa đa lĩnh vực, cũng yêu cầu sales không chỉ hiểu kỹ thuật mà còn phải hiểu về tuân thủ.
Đề thi rất nhiều, bọn họ thi từ sáng đến trưa. Nộp bài xong quay về bộ phận, từ xa đã thấy Giang Hân ở trong văn phòng của Chu Minh Sơ.
Hai người ban đầu đối diện nhau nói chuyện gì đó, sau đó Giang Hân đứng dậy, lấy một chiếc ấm tử sa trên kệ đồ cổ của Chu Minh Sơ, cầm trong tay ngắm nghía hồi lâu, rồi quay đầu hỏi một câu gì đó. Đợi Chu Minh Sơ trả lời xong, chị ấy bật cười khúc khích, cười đến mức vai cũng run lên.
HOA ĐÔ – CHƯƠNG 34
Chương 34: Đừng liên lạc với tôi – Cô sợ ai hiểu lầm
*
Có đồng nghiệp thò đầu ra nhìn ngó, nói: “Hôm nay Tổng giám đốc Giang tâm trạng tốt thật đấy.” Cách cả lối đi vẫn nghe thấy tiếng cười của chị ấy.
“Ở cùng Tổng giám đốc Chu thì sao mà không vui cho được?” Bên cạnh lập tức có người tiếp lời: “Có điều Tổng giám đốc Chu nói gì vậy, tôi cũng muốn nghe thử?”
Văn Hòa nhìn sang, Giang Hân đã đặt ấm nước trở lại lên giá, nhưng chỉ một bóng lưng thôi cũng đủ cảm nhận được niềm vui của chị. Đối với vị khách lớn này, số lần Văn Hòa gặp chị không nhiều, nhưng Giang Hân lại có sức hút ngoại hình rất mạnh, kiểu khí chất ngầu đến mức ngay cả người cùng giới cũng phải công nhận.
Còn Chu Minh Sơ đã nói gì mà khiến chị cười như vậy, Văn Hòa cũng không có cách nào biết được.
Cô đặt đồ xuống chỗ ngồi, rồi lại sang phòng tư liệu photocopy thêm ít tài liệu. Lúc lơ đãng còn đóng nhầm ghim hồ sơ, mất khá lâu mới chỉnh lại cho đúng.
Khi quay về, quản lý đang bảo một học viên quản lý tham gia bữa trưa, đi ăn cùng Giang Hân.
Nghe nói phải ăn cùng khách hàng lớn, học viên quản lý có chút hoảng: “Hả? Em á? Em không biết làm đâu?”
Quản lý nói: “Có bảo cô đi uống rượu đâu, ăn cơm cũng không biết à?”
Học viên quản lý lập tức mang vẻ mặt muốn khóc.
Quản lý vừa thấy cô ấy mím môi là đã bực, đúng lúc trông thấy Văn Hòa: “Chiều nay cô có ra ngoài không?”
Văn Hòa nói: “Chiều nay còn có đào tạo.”
“Vậy thì vừa hay, cô đi cùng luôn.” Quản lý dùng tay chỉ vào cô bé kia: “Dẫn dắt cô bé kia một chút.”
Thực ra Văn Hòa không mấy muốn, không phải không muốn dẫn người, mà là không nghĩ Giang Hân sẽ muốn cô đi cùng. Nhưng đến lúc ra ngoài, Giang Hân lại như không có gì, chủ động chào cô: “Nãy không thấy cô.”
“Buổi sáng tôi đi thi.” Văn Hòa cười, dẫn đường cho chị ấy, liếc nhìn Chu Minh Sơ một cái, anh thong thả đi phía sau.
Ăn cơm với khách hàng nữ thực ra rất nhẹ nhàng, vì không cần uống rượu, chỉ làm cho xong nghi thức là được.
Chỉ có cô học viên quản lý tên Tiểu Thái kia thì toàn thân như viết đầy hai chữ “muốn chạy”, cứ bám sát bên Văn Hòa, dường như Văn Hòa chính là nguồn cảm giác an toàn của cô ấy.
Văn Hòa biết cô ấy căng thẳng, nên cũng không để cô ấy phải động tay nhiều, những việc trên bàn tiệc cơ bản đều tự mình làm. Thấy cô ấy không dám gắp thức ăn, thỉnh thoảng còn phải gắp giúp vài món, tránh để cô ấy chỉ ăn mỗi cơm trắng.
Tiểu Thái càng lúc càng không rời được cô, đi vệ sinh cũng muốn đi theo. Văn Hòa hạ giọng nói: “Em cứ ngồi ăn đi, Tổng giám đốc Giang hết trà thì rót cho chị ấy một chút là được, Tổng giám đốc Chu và những người khác thì không cần để ý.”
Chu Minh Sơ nhìn không quen: “Cô thế này đâu phải là dẫn người, là đang làm bảo mẫu rồi.”
Văn Hòa có phản ứng hơi mạnh với cách ví von này, nhìn anh rồi nói: “Tiểu Thái không thường xuyên tham gia mấy bữa thế này, lại là lần đầu ăn cơm với Tổng giám đốc Giang, căng thẳng là chuyện bình thường.”
“Chính vì căng thẳng nên càng phải để cô ấy tự làm, không thì bảo cô ấy vượt qua bằng cách nào, dựa vào tưởng tượng à?”
Một câu của Chu Minh Sơ làm Tiểu Thái ngồi không yên, lông mày chữ bát cũng lộ ra. Giang Hân liền an ủi Tiểu Thái: “Đừng căng thẳng, tôi không ăn thịt người đâu.” Rồi chị cười chỉ vào Chu Minh Sơ: “Tổng giám đốc Chu của mấy cô cũng không ăn thịt người, chỉ là mặt mũi trông hơi đáng sợ thôi.”
Một bụng lời của Văn Hòa bị chị nuốt ngược trở lại. Cô hạ mắt xuống, một lúc sau dạy Tiểu Thái: “Có món bánh gạo thịt bò hạnh nhân thì đi giục một chút, còn có bánh trôi nước Vũ Hoa Thạch nữa, nói với họ là có thể lên món rồi.”
“Vâng vâng, em đi ngay.” Lúc này Tiểu Thái chỉ hận không thể biến mất, lập tức chạy ra ngoài giục món. Giục xong quay lại, Văn Hòa lại dạy cô ấy thêm trà, thứ tự ra sao, rót mấy phần đầy, đều nói rất rõ.
Tiểu Thái run run làm xong, hễ có chút không chắc chắn là lập tức dùng ánh mắt cầu cứu Văn Hòa, thấy Văn Hòa gật đầu mới yên tâm.
Một bữa cơm ăn gần xong, Văn Hòa lại dạy cô ấy xuất hóa đơn: “Nhớ kiểm tra tiêu đề và số tiền, còn hỏi xem họ có vé gửi xe không, hay là trực tiếp nhập biển số xe là được.”
Tiểu Thái nhìn cô, Văn Hòa nói: “Đừng sợ, bình thường sẽ không sai đâu, bây giờ đều là hệ thống xuất hóa đơn.”
Cô ấy điều chỉnh rất nhanh.
Giang Hân nghiêng đầu nhìn cô, nhớ năm ngoái ở tiệc tất niên, cô chỉ cần cãi nhau với người ta vài câu là tay đã run, vậy mà bây giờ lại có thể dẫn người mới, chu đáo lại tinh tế như thế.
Văn Hòa đứng dậy rót nốt ấm trà cuối cùng cho mọi người, đến lượt Chu Minh Sơ thì thậm chí còn chắp hai tay ra sau lưng.
Chu Minh Sơ lấy khăn lau tay, Giang Hân chỉ vào chiếc đồng hồ của anh, rất hứng thú hỏi: “Chiếc đồng hồ này hình như tôi chưa từng thấy anh đeo, tôi xem một chút được không?”
Chu Minh Sơ không nói tiếng nào, tháo đồng hồ xuống, đưa cho chị.
Anh có hơi bực bội, Giang Hân cảm nhận được điều đó.
Chị ấy quá hiểu anh. Khi bạn thích một người suốt nhiều năm, những thay đổi trong cảm xúc của anh ta, sự lệch đi của ánh mắt, hay sự khác thường trong giọng nói, có khi còn nhận ra rõ hơn chính bản thân anh ta.
Giang Hân miễn cưỡng xem mặt đồng hồ một lúc, rồi trả lại, nói: “Trước đây ba tôi cũng có một chiếc như thế này, sau đó bị tôi làm rơi vỡ, sửa thế nào cũng không được, tôi muốn mua cho ông một chiếc mới.”
Văn Hòa đặt ấm trà xuống, thấy trên tay Chu Minh Sơ là một chiếc đồng hồ tourbillon, nhìn nhiều đến chóng mặt.
Lúc rời bàn tiệc, cô định giúp Giang Hân cầm túi, Giang Hân không để cô động tay, còn cảm ơn cô: “Vất vả rồi.” Không phải lời khách sáo, mà thật sự cảm thấy mình được chăm sóc rất chu đáo. Trước khi đi, chị ấy còn chủ động trò chuyện thêm với Văn Hòa vài câu, hỏi cô: “Quốc Khánh này có về nhà không?”
Văn Hòa gật đầu: “Có về ạ.”
“Quê cô ở An Huy đúng không? Nghe nói cảnh sắc An Huy đẹp lắm, tôi vẫn luôn muốn sang đó xem thử…” Giang Hân quay sang nhìn Chu Minh Sơ, cười nói: “Tiếc là ông chủ Hứa về Quảng Châu rồi.” Chị ấy lại hỏi: “Anh ấy về Quảng Châu bận việc gì vậy?”
“Mẹ cậu ấy gọi về ăn Tết Trung thu.” Chu Minh Sơ nhìn ra ngoài, nắng mặt trời chiếu khiến mọi thứ đều trắng xóa.
“Tôi còn bảo sao tự dưng lại chạy về, cứ tưởng xảy ra chuyện gì khác.” Giang Hân đưa tay chỉnh nhẹ chiếc khuyên tai đang đung đưa.
Tiễn Giang Hân xong, Văn Hòa nhận được tin nhắn của Lương Côn Đình, nói đèn đường dưới lầu bị nổ, đoạn đường đó có chút vấn đề về đường dây, bảo cô buổi tối đi bộ cố gắng đi cùng người khác.
Tiểu Thái ghé lại hỏi: “Bạn trai à?”
Văn Hòa lắc đầu: “Đừng nhìn linh tinh.”
“Em có nhìn đâu, em nghe thôi, giọng còn khá trầm.” Tiểu Thái cười, lộ ra một chiếc răng nanh nhỏ. Thấy Chu Minh Sơ đi tới, cô ấy lập tức chui sang phía bên kia của Văn Hòa.
Văn Hòa không ngẩng đầu, trả lời tin nhắn cho Lương Côn Đình, đồng thời cũng nhớ lại sự khác thường của anh.
Bất kể là lần đột ngột tiến lại gần trong bệnh viện, hay sau đó ở ban công bỗng nhiên muốn hôn cô, đều khiến cô có cảm giác sự kiên nhẫn của anh sắp cạn rồi. Nhưng anh vẫn liên lạc với cô như thường lệ, cho dù bây giờ lại xuất hiện thêm một người bạn gái cũ của anh.
Có lẽ chỉ là cô quá nhạy cảm.
Về lại công ty, Văn Hòa thấy quản lý lấy ra một túi đồ ăn vặt: “Mấy cô ai ăn thì chia nhau đi.”
“Gì vậy ạ?” Tinh Tinh chạy qua mở ra xem, đa số là cá khô. Quản lý nói là mua lúc đi du lịch Hạ Môn, vốn định mua cho vợ ăn, nhưng dạo này vợ anh mang thai, không ăn được cũng không ngửi được.
Khi nói những lời này, trên mặt quản lý không giấu được vẻ vui mừng, mọi người cũng thuận thế chúc mừng. Sau đó Tinh Tinh nói: “Đừng thấy anh ấy thế này, đối với vợ thì thật sự rất tốt, vừa sợ vừa yêu, giống một người đàn ông nhỏ vậy.”
Văn Hòa không mấy hứng thú với chuyện gia đình của quản lý, nhưng đống đồ này cũng chẳng có mấy người muốn ăn, nên cô cầm một gói định mang đi cho mèo ăn.
Cửa hành lang vừa đẩy ra, lại ngửi thấy mùi thuốc lá quen thuộc. Cô bước tới nhìn, quả nhiên lại là Chu Minh Sơ. Anh tựa bên cửa sổ hút thuốc, con mèo mướp kia cứ quanh quẩn bên chân anh, thỉnh thoảng ngẩng đầu nhìn anh một cái.
Mèo thì quấn người, còn người lại chẳng mấy để ý đến mèo. Chu Minh Sơ thậm chí còn đưa chân đẩy nó ra, qua lại mấy lần, không kiên nhẫn liếc nhìn Văn Hòa: “Mang nó đi chỗ khác.”
Văn Hòa mở bao bì, đợi mèo lại gần thì chuẩn bị xé cá, nhưng con mèo này lại trực tiếp ngậm luôn cả túi đồ của cô chạy mất.
Văn Hòa cầm mảnh cá khô còn sót lại, ngẩn người một lúc rồi định đi. Chu Minh Sơ đưa tay đẩy mở thêm một cánh cửa sổ nữa: “Ở dưới kia.”
Cô nhìn xuống, quả nhiên con mèo mướp ngậm túi đồ chạy xuống gốc cây ở tầng một, chia thức ăn cho một con mèo nhỏ gầy trơ xương. Miệng túi đã mở, hai con mèo rất thông minh, cắn đáy túi đứng lên tảng đá, toàn bộ cá khô bên trong đều rơi ra.
Lúc này Văn Hòa mới nhận ra, con mèo mướp vừa rồi hẳn là đang xin Chu Minh Sơ đồ ăn, chỉ tiếc anh chỉ có thuốc lá.
Chu Minh Sơ dập tắt điếu thuốc, Văn Hòa chợt nhớ ra một chuyện: “Tổng giám đốc Chu, có phải sắp hủy bỏ chế độ phân cấp hai chiều không ạ?”
“Có kế hoạch đó.”
“Ồ.” Vậy thì nhà phân phối lớn kia chắc sẽ không mấy đồng ý, dù sao chế độ trước đây đối với họ mà nói, có thể đạt được một dạng độc quyền trá hình.
Hôm nay Giang Hân tới hẳn cũng là vì chuyện này, chỉ là trong bữa ăn không bàn nhiều về công việc, kết quả cuối cùng ra sao thì cũng chưa biết được.
Văn Hòa xoay người định rời đi, lại nghe Chu Minh Sơ hỏi: “Cô với vị bác sĩ kia là hàng xóm à?”
Thân hình Văn Hòa khựng lại.
Chu Minh Sơ nói: “Hôm đánh bóng xong, anh ta thấy tôi ở dưới lầu nhà cô.”
Trong đầu Văn Hòa trống rỗng một nhịp, rồi lại nghe anh nói tiếp: “Đi cùng anh ta là chủ nhà của tòa nhà đó?”
“Ai cơ?”
“Đầu trọc, tuổi không nhỏ, lái một chiếc Lexus.” Chu Minh Sơ miêu tả như vậy.
Mắt Văn Hòa chậm rãi mở to: “Sao anh biết?”
Chu Minh Sơ nói: “Sáng hôm đó tôi từ nhà cô đi xuống, bị ông ta nhìn thấy. Ông ta hẳn là nhớ xe của tôi, cũng nhớ cả tôi.” Anh lúc nào cũng có thể dùng vẻ mặt và giọng điệu bình thản để nói ra những chuyện khiến người khác kinh ngạc.
Văn Hòa hiểu ra, lập tức nghẹn đến mức mặt đỏ bừng.
Anh nói với cô những điều này là có ý gì, là muốn hỏi cô làm sao biết được hôm đó xe anh đỗ dưới lầu nhà cô, hay là muốn hỏi Lương Côn Đình có biết chuyện anh từng qua đêm ở chỗ cô hay không?
Văn Hòa bỗng thấy người này không chỉ vô liêm sỉ, mà còn không hề lấy làm xấu hổ. Hoặc khi bạn nghĩ anh vô liêm sỉ rồi, thì rất có thể anh còn giấu nửa câu vô liêm sỉ hơn nữa, chờ xem bạn tức đến phát điên.
Văn Hòa quyết định không hỏi tiếp.
Chu Minh Sơ lại cực kỳ thờ ơ liếc nhìn cô, như thể đang dùng ánh mắt để xác nhận điều gì đó, một lúc sau hỏi: “Cốc Chí Đức hẹn cô ngày nào?”
“…Ngày mai.” Giọng Văn Hòa gượng gạo, cô đã rất muốn đi rồi.
Chu Minh Sơ hỏi: “Hẹn ở đâu?”
Anh cứ hỏi mãi như vậy, trong đầu Văn Hòa bỗng như có một sợi dây bị kéo căng: “Tổng giám đốc Cốc… chắc là an toàn chứ?” Cô thật sự không dám tin Cốc Chí Đức cũng là người có ý đồ gì khác.
Chu Minh Sơ dường như nghĩ đến điều gì đó, sắc mặt cũng không mấy tốt, nửa ngày sau mới miễn cưỡng nói một câu: “Cô không phải Lư Tĩnh Châu, không cần phải sợ anh ta.” Nói xong bỗng đưa tay xoay Văn Hòa ra phía sau, mấy bước tiến tới kéo cửa ra: “Cô đứng đây nghe lén cái gì?”
Kim Linh hoảng đến tái mặt: “Không, không có, tôi không nghe gì cả.”
Chu Minh Sơ hỏi: “Ai dạy cô cái thói quen nghe trộm người khác nói chuyện vậy?”
Bản thân anh đã mang gương mặt nghiêm nghị, ánh mắt lại có một luồng sắc bén khiến Kim Linh không dám thở mạnh: “Xin lỗi Tổng giám đốc Chu, tôi, tôi chỉ muốn tới đây gọi một cuộc điện thoại riêng.” Cô ta giơ điện thoại lên, tay run bần bật.
Chu Minh Sơ nhìn chằm chằm cô ta: “Thói quen này tốt nhất nên sửa đi, đừng để tôi thấy lần thứ hai.”
“Vâng.” Kim Linh không dám nán lại, xoay người đi ngay.
Khi Văn Hòa bước qua, chỉ thấy một bóng lưng hoảng hốt.
Buổi chiều học ở tòa nhà đào tạo, Tổng giám đốc Diệp bên bộ phận thu mua giảng về vật liệu. Vì sao một loại vật liệu phải cập nhật, vật liệu cũ khác gì so với vật liệu của đối thủ cạnh tranh, ông ấy giảng rất rõ ràng, những phép so sánh dùng cũng thú vị, không hề khô khan.
Có lẽ vì buổi trưa đã cùng đi tiếp khách, lúc này Tiểu Thái tỏ ra thân thiết hơn với Văn Hòa, ngồi sát bên cô nói: “Hồi hội tuyển dụng ở trường bọn em, chính Tổng giám đốc Diệp đi thuyết trình, rất nhiều người trong bọn em đều vì ông ấy mà tới.”
Văn Hòa hỏi: “Vậy sao em lại sang làm bán hàng?”
“Luân chuyển thôi…” Tiểu Thái méo mặt: “Với lại dì em nói bán hàng tốt, bảo em thử xem.” Nhưng không ngờ bán hàng là dao thật súng thật, cô chạy bên ngoài mới một tuần đã suýt sụp đổ. Bị từ chối một lần còn có thể dày mặt tiếp tục, bị từ chối lần hai, lần ba, thậm chí còn bị đuổi thẳng, cảm giác thất bại đó khó mà diễn tả được.
Càng nghĩ càng thấy khó chịu, Tiểu Thái hỏi: “Chị Văn Hòa, hồi đó chị ký được đơn đầu tiên bằng cách nào vậy?”
Văn Hòa an ủi cô ấy vài câu, nói: “Thực ra đơn đầu tiên của chị hoàn toàn là nhờ may mắn.” Lại còn là kiểu may mắn vòng vèo chín khúc mười tám ngã, lúc đó nghe tin đơn hàng quay lại, cô thật sự suýt khóc.
Nhưng Tiểu Thái là quản trị viên tập sự, quản trị viên tập sự khác với thực tập sinh bình thường, không chỉ yêu cầu cao hơn, mà còn có thể luân chuyển giữa các phòng ban. Đã được tuyển làm quản trị viên tập sự, chứng tỏ nền tảng thực lực vốn đã mạnh hơn người thường.
Kim Linh cũng vậy.
Cô ta ngồi ở vị trí không xa Văn Hòa. Mấy lần, Văn Hòa đều phát hiện ánh mắt cô ta nhìn vị Tổng giám đốc Diệp kia quá mức tập trung, thậm chí còn có thể bắt được một nỗi hận mang tính bình thản.
Văn Hòa nhớ lại chuyện lúc ở phòng thu mua, có lời đồn nói cô ta thầm mến Tổng giám đốc Diệp, lại vì không được làm trợ lý của anh mà buồn bã.
Nhưng Kim Linh thật sự sẽ yêu mến ai sao? Văn Hòa nghĩ đến đêm ở Huệ Châu, cảm giác cô ta cũng chẳng coi Vương Đông Ni ra gì, với Kim Linh thì Vương Đông Ni chắc chỉ là món đồ chơi, hoặc công cụ mà thôi.
Sau buổi đào tạo, Văn Hòa đi vào nhà vệ sinh, đứng trước gương rút lại chiếc nơ trước ngực áo sơ mi. Kim Linh ở bên cạnh hỏi: “Có cần em giúp không?”
“Cảm ơn, tôi tự làm được.” Văn Hòa đối diện gương, buộc lại cái nơ cho chỉnh tề. Ra ngoài rồi, Kim Linh từ tòa nhà đào tạo cứ đi theo cô đến tận cửa hàng tiện lợi, có chút cảm giác như bóng ma dai dẳng.
“Cô có chuyện gì sao?” Văn Hòa cuối cùng không nhịn được, quay đầu nhìn cô ta.
Kim Linh đưa lon nước trong tay ra: “Em chỉ muốn cảm ơn chị Văn Hòa, cảm ơn chị đã nhường cơ hội làm MC cho em.”
Nhưng Văn Hòa vốn chưa từng nghĩ đến việc đăng ký.
Làm MC tất nhiên tốt, hào nhoáng nổi bật, một buổi có bao nhiêu đại lý, chỉ cần xuất hiện là ai cũng biết mặt, lại không phải chạy tới chạy lui dưới sân. Nhưng Văn Hòa lại muốn chú trọng vào chi tiết, hơn nữa trước đây chưa từng làm MC, nếu có ý định cũng nên quan sát rồi thử, bằng không thì chẳng có kinh nghiệm nào để rút ra.
Cô nghĩ rồi nói: “Không chỉ hôm nay đâu, hình như cô luôn thích đi theo tôi?” Bao gồm cả buổi trưa nay.
Kim Linh mỉm cười: “Em chỉ thấy rất hợp với chị Văn Hòa, luôn muốn nói thêm vài câu với chị.”
Trong nụ cười ấy, Văn Hòa bỗng hiểu ra vài chuyện.
Ví dụ lần hội nghị kênh này, Kim Linh vì sao cứ khăng khăng hỏi cô có đăng ký làm MC không, là bởi cô ta nghĩ chỉ cần Văn Hòa tham gia, Chu Minh Sơ sẽ bảo vệ cô giống như Vương Đông Ni đã từng.
Cô ta cho rằng quan hệ giữa Văn Hòa và Chu Minh Sơ cũng giống như giữa cô ta và Vương Đông Ni.
Cô ta đang tìm đồng loại.
Văn Hòa theo bản năng phủ nhận: “Tôi không thấy chúng ta hợp nhau, có lẽ cô đã hiểu lầm gì đó.”
Kim Linh suýt bật cười: “Có lẽ vậy?” Cô ta nhìn chằm chằm Văn Hòa, nhẹ nhàng nói: “Tôi cũng thấy tôi với chị có chút khác biệt, tôi không… gàn gẫm như chị.”
Văn Hòa chợt cảm thấy mình thật sự đã chọn đúng nghề, quả nhiên phải tiếp xúc với nhiều kiểu người khác nhau, nhìn nhiều rồi cũng chẳng thấy lạ nữa.
Dựa vào chút trực giác, cô đứng dưới ánh nắng muốn nhìn rõ cô gái này hơn, một lúc sau tự cười khẽ: “Tôi thật sự không hiểu nổi cô, nhưng hình như cô đang rơi vào ảo tưởng của chính mình. Những lời cô nói, là muốn tìm sự đồng cảm từ tôi sao? Nếu vậy thì gàn gẫm hình như lại là chính cô đấy?”
Sắc mặt Kim Linh thay đổi, Văn Hòa không để ý nữa, quay người bỏ đi.
Làm việc xấu và đóng vai kẻ ác, đáng sợ nhất là không tự nhất quán.
Cô nhớ lại trong phòng đào tạo, ánh mắt Kim Linh nhìn Tổng giám đốc Diệp không chỉ có hận mà còn có bất mãn, lại nghĩ đến ba chữ “tâm tham được mất” mà Chu Minh Sơ từng nói.
Cô cảm thấy Kim Linh rất hợp với ba chữ này.
Trước khi tan ca có một buổi họp về hội nghị kênh, Văn Hòa vừa ngồi xuống, Tiểu Thái cũng ngồi phịch xuống bên cạnh: “Chị Văn Hòa, em vừa nghe được một chuyện này.”
Dải nơ áo sơ mi của Văn Hòa bị đè, cô nhẹ nhàng rút ra hỏi: “Chuyện gì?”
“Buổi trưa Tổng giám đốc Giang ấy, chị ấy thích Tổng giám đốc Chu của chúng ta đó?” Tiểu Thái ra vẻ thần bí: “Chẳng trách chị ấy cười với Tổng giám đốc Chu như thế, còn sờ cả đồng hồ của anh ấy.”
Đồng nghiệp bên kia cười: “Giờ cô mới biết à? Chuyện này đâu còn là bí mật nữa.”
Quả thật, sau lễ kỷ niệm thành lập công ty, tâm ý của Giang Hân dành cho Chu Minh Sơ đã chẳng còn là bí mật, ít nhất ở bên bộ phận bán hàng, khá nhiều người đều biết, cũng rất thích bàn tán chuyện này.
Trong phòng họp nhanh chóng dấy lên một trận thảo luận, có người hỏi Văn Hòa: “Hôm đó chị chẳng phải đi cùng họ sao, có thấy gì mờ ám không?”
“Ngốc, trên xe còn có người, cô bảo họ làm sao mờ ám được?” Trong nhóm đồng nghiệp có một người khá láu cá, cười gian nói: “Tôi chỉ muốn biết, Tổng giám đốc Chu đưa Tổng giám đốc Giang về dưới lầu nhà, hay là đưa vào tận trong nhà?”
Mọi ánh mắt đều nhìn về phía Văn Hòa, cô nói: “Tôi xuống xe từ rất sớm rồi, không rõ nữa.”
Cửa bị gõ vài tiếng, Trương Nhĩ Trân bước vào, phía sau là Chu Minh Sơ.
Cảm giác ánh mắt anh quét qua, Văn Hòa cúi đầu lật tài liệu, mắt nhìn mũi, mũi nhìn tim.
Cuộc họp nhỏ không dài, kết thúc rồi thì những người quen thân bàn nhau đi ăn, hoặc tối nay đi uống với khách hàng nào đó.
Mọi người tản đi rất nhanh, Văn Hòa sang bên CRC một chuyến, quay lại thì phòng bán hàng gần như trống, Chu Minh Sơ chắc buổi tối có tiệc xã giao, vẫn còn trong văn phòng.
Văn Hòa cúi đầu tìm tài liệu, đồng thời nhận được một tin nhắn: “Đêm đó tôi có đưa Giang Hân về nhà không, cô không biết sao?”
Chu Minh Sơ gửi.
Văn Hòa lập tức trượt về màn hình chính, cúi đầu tiếp tục thu dọn đồ. Tinh Tinh hỏi: “Đi chưa?”
Văn Hòa ừ một tiếng rồi đi tắt máy tính, nhưng con trỏ lại đứng im trên màn hình, cô nhìn Tinh Tinh: “Cậu đi trước đi.”
Đợi đến khi Tinh Tinh xách túi đi mất hút, cái máy tính cũ của Văn Hòa vẫn không nhúc nhích, tức đến mức cô gõ loạn bàn phím, lại cầm chuột đập hai cái.
Tắt cái máy tính thôi mà cũng khiến cô bực bội, lễ tân đi tới thấy cô trừng mắt nhìn máy tính, khuyên: “Đổi máy đi, tự bỏ tiền mua cái Mac, kiếm được bao nhiêu mà không tiêu, giữ lại làm gì.”
Văn Hòa nửa thật nửa đùa nói một câu để dành mua nhà, ngẩng đầu thấy cô ta cầm túi chuyển phát nhanh, mắt lại nhìn chằm chằm vào văn phòng Chu Minh Sơ, liền hỏi: “Sao thế?”
Lễ tân nói: “Tôi tưởng Tổng giám đốc Chu đi rồi… không ngờ vẫn ở trong đó.”
Văn Hòa nghĩ một chút, cầm lấy một tập tài liệu: “Đưa tôi đi, tôi tiện có việc cần anh ấy ký.”
Khi bước vào, Chu Minh Sơ cũng đang tắt máy tính, theo thói quen liếc ra cửa, thấy cô cầm túi chuyển phát đi tới, nhớ lại hồi cô còn ở quầy lễ tân, mỗi lần mang cái gì đến đều rón rén, mặc váy công sở bước đi như không nhấc nổi chân, trên mặt lúc nào cũng có một nụ cười mỏng manh gượng gạo, ngay cả gõ cửa chào hỏi cũng như muốn toát mồ hôi, phải giữ lễ nghi gần như cứng nhắc, vào văn phòng anh thì như bước trên bông, đứng ở giữa phòng hơi cúi người, vẻ mặt cẩn trọng nói vài câu, rồi cung kính hỏi để đồ ở đâu.
Anh chỉ cần liếc qua là biết cô không thoải mái đến mức nào, lúc nào cũng như sẵn sàng bỏ chạy, nói chuyện với anh thì thiếu một hơi thở, cả người căng cứng, gương mặt chậm chạp và ngơ ngác.
Anh từng nghĩ cô hợp với một công việc không cần giao tiếp với ai, nhưng khi Dương Vũ đưa tay búng má cô, cô lại cười rạng rỡ, hận không thể treo lên vai họ Dương.
Anh nghi ngờ đầu óc cô thiếu mất vài thứ so với người khác.
Ở quầy lễ tân, cô giống như một người gỗ không có tính khí, ai ném gì trước mặt cũng cười, rụt rè, đối với người khác thì thân thiện đến mức không có giới hạn.
Nhưng lần này thì khác, cô vào liền đặt đồ lên bàn anh, nói xong chuyện chuyển phát rồi thêm một câu: “Tin nhắn tôi nhận được rồi.”
Chu Minh Sơ chờ câu tiếp theo.
Văn Hòa đứng thẳng trước mặt anh: “Xin Tổng giám đốc Chu từ nay nếu không phải công việc thì đừng liên lạc với tôi, cũng đừng đến dưới lầu nhà tôi nữa, tôi không muốn người khác hiểu lầm.”
“Cô sợ ai hiểu lầm, tên bác sĩ họ Lương đó?” Chu Minh Sơ đặt túi chuyển phát sang một bên, nhạt nhẽo đánh giá: “Tôi đoán anh ta không nói với cô chuyện gặp tôi, cũng không dám hỏi gì, gan anh ta bình thường thôi.” Mọi mặt đều bình thường.
Văn Hòa nhíu mày: “Anh ấy đã cứu em gái anh.”
Chu Minh Sơ ngả người ra sau: “Cô biết tôi không nói đến chuyện đó.”
Văn Hòa không muốn trả lời câu hỏi này: “Tôi nghĩ giữa chúng ta đã nói rất rõ rồi. Còn chuyện đêm đó anh có đưa Tổng giám đốc Giang vào nhà hay không, tôi không rõ, cũng không quan tâm.”
Chu Minh Sơ khựng lại, dựa vào lưng ghế nhìn cô một cách lặng lẽ, thần sắc khó đoán.
Văn Hòa xoay người, rời đi thẳng.
Mấy ngày sau đó, cô đều bận xử lý công việc trước kỳ nghỉ.
Cô tham gia hoạt động do Cốc Chí Đức giới thiệu, sau khi về thì bắt tay vào việc ký đơn, đồng thời theo sát cả chuyện tập huấn.
Đại lý Hà Bắc cử hai nhân viên kinh doanh tới tham gia đào tạo. Ngày cuối cùng của khóa tập huấn, Văn Hòa tới khách sạn, trên sân khấu là Chu Minh Sơ đang nói chuyện.
Cũng không hẳn là giảng bài, mà là anh bị mọi người đẩy lên trả lời câu hỏi. Huấn luyện bán hàng xưa nay luôn là sôi động nhất, hiện trường chẳng bao giờ thiếu nhiệt huyết và tiếng hò reo.
Lời Chu Minh Sơ nói thẳng thắn, mạnh mẽ, đánh trúng toàn bộ những điểm cốt lõi. Cách tư duy có thể rất chính diện, cũng có thể rất “tà”, chẳng hạn như vượt qua định kiến tâm lý, đừng còn chưa tiếp xúc đã tự cho rằng đối phương khó gần, khó chinh phục đến mức nào; trong bất kỳ hoàn cảnh giao tiếp nào cũng đừng mặc định đối phương quá chính trực hoặc quá thấp kém.
Anh cũng nói những lời không mấy khách sáo, ví dụ như chai rượu thì có thể xách trong tay, nhưng đầu óc thì không: “Đừng coi bất kỳ kỹ thuật nói năng nào là tín ngưỡng, đừng sợ hỏi những câu hỏi nhạy cảm. Anh không dám hỏi khách hàng thì sẽ bị cấp trên hỏi, bị ông chủ hỏi. Càng đừng sợ nói đến lợi ích, lúc bàn về lợi ích mà lúc nào cũng mập mờ, thì đừng trách người khác định nghĩa anh một cách mơ hồ.”
Bên dưới các đại lý vô cùng đồng cảm, giơ tay hưởng ứng: “Tổng giám đốc Chu nói đúng! Cứ mạnh dạn hỏi là được, anh không mở miệng thì người khác sẽ mở, không phải khách hàng thì cũng là đối thủ trong ngành!”
Làm bán hàng chưa bao giờ thiếu những người có “phản cốt” và một thân đầy gai ngược. Bên dưới cơ bản đều là những người xông pha tuyến đầu, chạy đơn bằng thật lực. Nói với họ những bài bản hoa mỹ thì quá giả, nói chiến lược suông thì quá hư, phải đấm thẳng vào thịt, chỉ rõ những điểm đau trong từng khâu bán hàng, mới khiến họ có sự cộng tình, mới thực sự tin phục.
Không khí có lúc sôi nổi đến mức khác thường.
Chu Minh Sơ phát biểu với khí thế cực thịnh, nhưng cũng có mặt tùy hứng, chẳng hạn như từ quan hệ rượu thịt nói sang việc chèn ép đồng nghiệp trong ngành, rất hợp với phong cách ít nói nhiều làm của anh.
Văn Hòa nhìn Chu Minh Sơ đứng trên sân khấu. Anh quả thực có khí phách và sức lan tỏa rất mạnh, không phải kiểu cuồng đến mức khiến người khác phản cảm, mà là khiến người ta vô thức muốn nghe anh nói, và tin những gì anh nói.
Nhìn quanh những tiếng reo hò và những người cúi đầu ghi chép, uy tín có lẽ chính là được tích lũy trong từng lần tán đồng như thế.
“Cô Văn.” Sau buổi tập huấn, lúc ăn cơm cùng nhau, hai nhân viên kinh doanh bên Hà Bắc tới tìm cô uống rượu: “Vẫn luôn muốn vào Quảng Châu xem thử, không ngờ cô Văn ngoài đời giống giọng nói y như vậy, giọng hay, người cũng xinh.”
Khen người là kỹ năng cơ bản của dân kinh doanh. Trong đó có một người là con trai ông chủ, Văn Hòa cụng ly với họ: “Sếp Bì Nhỏ cũng rất tuấn tú, tôi nghe ông chủ Bì nói cuối năm anh kết hôn, đến lúc đó tôi còn phải tới xin một chén rượu mừng.”
“Khách sáo quá, cô cứ đến, chỉ cần là người của E Khang thì bọn tôi đều tiếp đãi.”
Văn Hòa mỉm cười, xã giao xong thì nói thêm vài câu chính sự. Trước hết nói về chính sách cô sẽ cố gắng tranh thủ cho họ, chẳng hạn như thêm quyền đại lý sản phẩm, chính sách hoàn tiền, quyền thương lượng giá… nhưng cũng nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại là không được bán chéo hàng, không được phạm điều cấm. Thành tích có thể chậm rãi mà làm, nhưng lằn ranh đỏ thì tuyệt đối không được chạm vào.
Trong sảnh tiệc rất đông người. Chu Minh Sơ uống xong rượu thì nhấp một ngụm nước khoáng, quay lưng lại thấy Văn Hòa đang nói chuyện với các đại lý dưới quyền. Hai nhân viên kinh doanh liên tục gật đầu, thỉnh thoảng hỏi thêm vài câu, cô nghiêm túc trả lời. Cũng có những đại lý khác tới bắt chuyện, cô cầm ly rượu, xã giao đâu ra đấy.
Chu Minh Sơ nhìn cô lắc lư, từng chút một như xếp hình mà nhặt lấy kỹ năng, từ giả vờ mặt dày vô liêm sỉ, đến bây giờ đã thích nghi rất tốt.
Nhưng ban đầu, anh quả thực không định để cô tới.
“Tổng giám đốc Chu.” Có người đặc biệt mang tới một chiếc khăn nóng sạch sẽ. Chu Minh Sơ úp lên mặt xông vài giây, đặt xuống lau tay, rồi lại tiếp tục uống cùng người khác.
Trong lượt mời rượu này có Văn Hòa và các đại lý của cô. Sếp Bì Nhỏ rất chủ động lại khéo ăn nói, chưa kịp để Văn Hòa mở miệng đã tiến lên tự giới thiệu, cụng với Chu Minh Sơ một ly.
Cậu nhóc này gần như dùng chung một khuôn mặt với ba mình, không cần giới thiệu Chu Minh Sơ cũng biết là ai.
Anh hỏi thăm tình hình công ty họ, sự thay đổi của đội ngũ trong một năm qua. Sếp Bì Nhỏ theo câu chuyện nói rất lâu, nói đến mức các đại lý khác đều chăm chú nhìn. Văn Hòa thật sự thấy ngại, bèn tìm cớ kéo Tiểu Bì đi.
Tiểu Bì còn lải nhải với cô: “Nghe ba tôi nói Tổng giám đốc Chu trẻ, không ngờ lại trẻ thật.”
Văn Hòa hết cách với anh ta, nhưng đại lý năng động vẫn hơn là không nói gì, nên cũng mặc cho anh ta đi tìm người khác. Cô chỉ nhắc đừng uống quá nhiều, rồi tự mình đi tới chỗ ít người để nghe điện thoại. Ngày mai cô cùng em họ Chung Lộ về nhà, Chung Lộ nói mình không mang gì nhiều, vali vẫn còn chỗ, có thể để đồ của cô.
Văn Hòa nói: “Em đổi sang vali nhỏ đi, chị cũng không mang gì nhiều.” Cô không định ở nhà lâu, đi về đều phải tránh giờ cao điểm, hơn nữa còn hẹn gặp khách hàng.
Cúp máy xong, cô cảm giác có ánh mắt đuổi theo sau lưng. Văn Hòa quay đầu lại, những người cầm ly đi qua đi lại, xuyên giữa dòng người, cô không lệch không trượt, chạm thẳng vào ánh nhìn của Chu Minh Sơ.
Có lẽ anh uống hơi nhiều, ngồi ở đó rất tùy ý, tư thế gần như dạng chân phóng khoáng.
Bị anh nhìn chằm chằm đến rờn da đầu, Văn Hòa nghĩ một lúc, cúi đầu nhắn tin cho anh: [Tổng giám đốc Chu có việc gì cần tìm tôi sao?]
[Không có.] Chu Minh Sơ biết rõ còn hỏi: [Sao, cô có việc à?]
Ngón tay Văn Hòa gõ rất nhanh: [Tôi thấy anh hình như đang nhìn tôi, không biết có phải là tôi nhìn nhầm không?]
Chu Minh Sơ trả lời: [Uống nhiều thì có thể là nhìn nhầm, không uống nhiều thì chắc là không phải.] Rồi anh lại gửi tiếp: [Đông người thế này, uống nhiều thì nhìn ai cũng có thể nhìn, cô không cần để ý đến tôi, sẽ không gây phiền toái cho cô.]
Văn Hòa lại một lần nữa bị mấy lời này của anh làm cho tức đến nghẹn họng.
Giữa mày cô giật liên hồi, cứ nghĩ hôm đó mình đã nói đủ rõ ràng, cũng đã hoàn toàn đắc tội với anh rồi, không ngờ người này mềm cứng đều không ăn, hoặc căn bản là anh chẳng coi cô ra gì.
Một lát sau điện thoại lại rung lên, Chu Minh Sơ nhắc cô: [Bảo đại lý của cô tránh xa người bên Bộ phận Hai ra một chút.]
Văn Hòa giật mình ngẩng đầu, thấy Tiểu Bì uống quá chén, đang háo hức muốn đấu rượu với người bên bộ phận hai.
Cô vội vàng chạy qua kéo người ra, tốn rất nhiều sức mới lôi được anh ta về. Thấy anh ta say đến không phân biệt nổi đông tây nam bắc, cô gọi nam đồng nghiệp tới đỡ, đưa lên phòng khách trên lầu.
Xử lý xong mấy chuyện này vừa mệt vừa khát, Tiểu Thái mang cho cô một chai nước khoáng sạch, ấp a ấp úng hỏi: “Chị Văn Hòa, mình đi được chưa ạ?”
“Chắc là được rồi.” Văn Hòa cũng muốn đi sớm. Cô xách túi, dẫn người lặng lẽ rời đi. Lúc đi ngang qua chỗ Chu Minh Sơ, anh lại đang đường hoàng trò chuyện với người khác, đứng vững vàng nghiêm chỉnh, làm như ban nãy chỉ là nói mấy câu say rượu.
Cô đi chưa bao lâu, Chu Minh Sơ nhận được một cuộc điện thoại, nói ông ngoại anh nhập viện rồi.
HOA ĐÔ – CHƯƠNG 31
Chương 31: Có bệnh – Đột ngột cúi đầu hôn tới
*
Lương Côn Đình đang nói chuyện phải quay về khoa, cũng trùng hợp thật, vừa đưa người tới thì đã có ca phẫu thuật cần anh vào ngay, nếu anh không tới, chưa chắc người làm ca đó đã là anh.
Bên ngoài đang mưa, Văn Hòa còn nghĩ: “Không cần phải chạy từ nhà tới, vừa hay ở gần.”
Lương Côn Đình cười khổ: “Biết thế đưa sang bệnh viện khác rồi, cứ như thế này…” Xui xẻo cũng chẳng biết nói sao, chỉ đành bất lực thở dài. Ngẩng đầu lên, anh nhìn thấy Chu Minh Sơ đang đi tới.
Vì buổi chiều đã gặp qua, Lương Côn Đình có ấn tượng, anh hỏi Văn Hòa: “Là vị này sao?”
Được anh nhắc, Văn Hòa quay người cũng nhìn thấy Chu Minh Sơ: “Tổng giám đốc Chu.”
Chu Minh Sơ bước tới, Văn Hòa thấy anh nhìn Lương Côn Đình, vội giới thiệu với hai bên: “Đây là Tổng giám đốc Chu bên tôi, người ở trong kia là em gái anh ấy.”
Rồi lại giới thiệu Lương Côn Đình: “Đây là bạn tôi, cũng là bác sĩ ở đây, chính anh ấy đã cứu cô Lư, cũng là anh ấy lái xe đưa người tới.”
Theo phép xã giao, hai người đàn ông bắt tay nhau một cái.
Chu Minh Sơ hỏi Văn Hòa: “Rốt cuộc là xảy ra chuyện gì, báo cảnh sát là sao?”
Văn Hòa cũng thấy khó tin.
Khi đó cô đang ở khu Liệp Đức gói đồ nướng cho Mao Lộ Lộ, thì thấy Lư Tĩnh Châu bị một người đàn ông chặn lại. Người đó hẳn là bạn trai cũ của cô ấy, đầu tiên thì sống chết bám lấy đòi quay lại, bị từ chối xong chắc là thẹn quá hóa giận, đuổi theo không cho Lư Tĩnh Châu rời đi.
Người đàn ông đó trông thì nho nhã lịch sự, ra tay lại đặc biệt tàn nhẫn, túm lấy đầu Lư Tĩnh Châu, ấn thẳng vào tường, dáng vẻ mất kiểm soát cảm xúc khiến người ta sợ hãi.
Chu Minh Sơ nghe xong liền hỏi: “Người đâu?”
“Bị cảnh sát đưa đi rồi.” Văn Hòa nghiêng đầu, vừa hay nghe y tá gọi, nói bệnh nhân đã tỉnh.
Lư Tĩnh Châu còn hơi ù tai, nói mấy câu mới dần hoàn hồn.
Cô nhìn thấy Chu Minh Sơ, lẩm bẩm nói: “Thật sự không phải vấn đề của tôi, là anh ta có bệnh.”
Chu Minh Sơ hỏi: “Cốc Chí Đức không ở cùng cô sao?”
“Anh ấy… đi công tác.” Lư Tĩnh Châu bất an nắm chặt ga giường bệnh.
Chu Minh Sơ nói: “Anh ta đi công tác, nên cô đi gặp bạn trai cũ.”
Đầu Lư Tĩnh Châu cúi thấp đến mức không thể thấp hơn: “Anh ta nói anh ta bị bệnh, nhất định phải gặp tôi một lần, tôi cũng không ngờ…”
Cô chợt nhớ ra điều gì, vội ngẩng đầu lên, lại thấy ánh mắt Chu Minh Sơ vượt qua cô, nhìn về phía hai người ở cửa.
Lương Côn Đình chuẩn bị rời đi, đang nói chuyện với Văn Hòa: “Lát về cẩn thận một chút, bảo bạn cô xuống đón cô.”
Không biết Mao Lộ Lộ đã tan ca chưa, Văn Hòa nói: “Không sao đâu, dạo này an toàn lắm, lần trước tên biến thái đó chắc không dám tới nữa.”
“Vẫn phải cẩn thận.” Lương Côn Đình hơi do dự, muốn cô đợi trong bệnh viện, lại không biết mình bao giờ mới xuống được khỏi bàn mổ, đành dặn dò: “Về tới nhà thì nhắn tin cho tôi.”
Văn Hòa gật đầu: “Được.”
Lương Côn Đình cúi đầu xác nhận lại với cô: “Đừng thấy phiền, nhớ báo bình an cho tôi, không thì tôi lên bàn mổ cũng không yên tâm.”
Anh bỗng nhiên đứng rất gần, Văn Hòa đỏ mặt, khẽ “ừ” một tiếng.
Nhìn từ xa một chút, trông giống như một cặp tình nhân nhỏ lưu luyến không rời đang nói chuyện riêng tư.
Lư Tĩnh Châu lại nhìn sang Chu Minh Sơ, anh đã thu ánh mắt về: “Vừa rồi cô định nói gì?”
Lư Tĩnh Châu nói: “Đừng gọi cho mẹ tôi, tôi không muốn bà ấy lo lắng.”
Chu Minh Sơ không quan tâm: “Việc này cô tự giải quyết.”
Thế nên vẫn lạnh nhạt một chút thì hơn, người lạnh nhạt chừng mực rõ ràng, sẽ không vì chút chuyện đã ầm ĩ để cả thiên hạ đều biết.
Đương nhiên Lư Tĩnh Châu cũng không sợ thiên hạ biết, cô chỉ không muốn mẹ mình lo lắng, cũng không muốn nghe mẹ nói nhiều thêm gì, ngoài việc làm mòn tai thì chẳng có ý nghĩa gì.
Thở phào một hơi, Lư Tĩnh Châu gọi Văn Hòa: “Cảm ơn cô, vừa rồi may mà có các cô.”
Rồi cô ấy hỏi: “Anh lúc nãy là ai vậy?”
Văn Hòa nói: “Là một người bạn của tôi.”
Lư Tĩnh Châu “à” một tiếng: “Anh ấy là bác sĩ ở đây sao?” Vừa rồi cô có thấy Lương Côn Đình nói chuyện với y tá ở đây.
Văn Hòa gật đầu.
Lư Tĩnh Châu mỉm cười: “Vậy lát nữa cũng giúp tôi cảm ơn anh ấy, vừa rồi thật sự nhờ có anh ấy.” Vừa trải qua tai nạn, nhưng trạng thái của cô lại hồi phục rất nhanh, tố chất tâm lý cũng mạnh, thậm chí còn như không có chuyện gì mà đùa: “Tôi có nên tặng anh ấy một lá cờ thi đua không, bác sĩ bệnh viện hạng ba giáp nhất đều thích cái này mà?”
Văn Hòa cảm thấy cách nói này đối với Lương Côn Đình mơ hồ có chút không tôn trọng, liền hơi cau mày: “Tôi đã gọi điện cho Tổng giám đốc Cốc, nhưng không liên lạc được.”
Chu Minh Sơ hỏi: “Cô có số điện thoại của anh ta?”
“Wechat, lần trước thêm ở triển lãm.” Văn Hòa liếc nhìn Lư Tĩnh Châu, thực ra lúc gọi cô có hơi do dự, dù sao trước khi xảy ra xung đột, cô và người bạn trai cũ kia trông quả thật có chút mập mờ.
Nhưng Lư Tĩnh Châu lại bình thản như không: “Chắc anh ấy đang trên máy bay, không gọi được cũng bình thường.” Nói rồi mở điện thoại liên lạc với trợ lý.
Rất nhanh cảnh sát tới lấy lời khai, vì là người chứng kiến, Văn Hòa cũng ghi một bản theo.
Cảnh sát hỏi rất kỹ, những gì cần nói cô đều nói hết. Ký tên xong chuẩn bị đi thì đụng phải Đinh Thải, vóc người Đinh Thải nhỏ nhắn, nhưng lực lại rất mạnh, va vào ở cửa khiến xương sườn Văn Hòa tê rần một lúc.
“Xin lỗi, cô không sao chứ?” Đinh Thải vội đỡ cô.
“Không sao.” Văn Hòa che chỗ đó, đứng lại một chút cho đỡ, thấy tóc mái của cô ấy cũng bị mưa làm ướt, liền cảm thấy công việc này của cô ấy cũng không dễ dàng gì: cấp trên say rượu ở quán bar phải đi đón, cấp trên gặp chuyện nhập viện rồi, tối muộn còn phải chạy tới chăm sóc.
Hai người chào hỏi trò chuyện đôi câu, Văn Hòa đeo ba lô xuống lầu.
Mưa rơi lộp bộp, cũng may lúc nãy Lương Côn Đình đã giúp cô mượn được một cái ô ở khoa cấp cứu. Văn Hòa định đi ra ngoài gọi xe, liền mở ô đi ra ngoài.
Mặt đất ướt, Văn Hòa cẩn thận tránh những chỗ đọng nước. Đèn xe chiếu tới, cô ngoái đầu nhìn một cái, xe của Chu Minh Sơ đang chạy lên.
Văn Hòa không muốn ngồi xe anh: “Cảm ơn Tổng giám đốc Chu, tôi tự bắt taxi là được.”
Cô tiếp tục đi về phía trước, đi qua chòi gác rồi ra khỏi cổng lớn. Xe của Chu Minh Sơ vẫn đi theo phía sau, cuối cùng dừng lại ở lề đường nơi cô chờ xe, cửa kính hạ xuống, khóa xe cũng mở ra.
Anh không nói gì, Văn Hòa cũng không muốn để ý tới anh, cúi đầu mở ứng dụng gọi xe.
Gió lớn mưa lớn, chiếc váy cô mặc bị thổi dính sát vào chân. Chiếc ô gấp này lại nhỏ, hoa hoét sặc sỡ rất đẹp, nhưng không chịu nổi gió mưa.
Văn Hòa che đầu lùi lại mấy bước, vì bệnh viện này có hai cổng thường xuyên nhảy sai định vị, cô đang cúi đầu chỉnh lại thủ công thì Chu Minh Sơ bỗng từ ghế lái chui ra, chẳng nói chẳng rằng nhét cô vào trong xe, thu ô, kéo dây an toàn, dùng sức đóng sầm cửa lại.
Anh sức lớn lại nhanh, xe vừa khởi động lại, Văn Hòa ngơ ngác mấy giây, đột ngột quay đầu nhìn Chu Minh Sơ: “Anh làm cái gì vậy?”
“Tôi không có thói quen phải gọi mời ba lần bốn lượt.” Giọng Chu Minh Sơ cứng nhắc.
Văn Hòa nói: “Tôi cũng đâu có bảo anh phải gọi mời, tôi đã nói là tôi tự bắt xe!”
Chu Minh Sơ mặc kệ, để mặc cho ánh mắt cô như bốc lửa, anh vững tay cầm vô lăng, hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Văn Hòa muốn mắng anh có bệnh, phải cố gắng rất nhiều mới không buột miệng mắng ra. Cô nghiến răng chỉnh lại dây an toàn đang siết cổ, kéo nhẹ váy đã bị mưa làm ướt, rồi lấy khăn giấy từ trong túi ra lau chân.
Gió ấm được bật lên, cả hai đều hơi ướt sũng. Chu Minh Sơ tập trung lái xe, không nói một lời, Văn Hòa cũng lười nói thêm với anh.
Một lúc sau Mao Lộ Lộ gọi tới, cô bắt máy, nói chuyện đứt quãng: “Đột xuất có chút việc… chưa mua… được rồi, mình sắp tới rồi, mình đợi cậu ở trước cửa tiệm thuốc đó…”
Ở gần nên quả thật tới rất nhanh.
Văn Hòa chỉ vào hộp đèn của tiệm thuốc: “Dừng ở đây là được.”
Chu Minh Sơ như không nghe thấy, vẫn định lái vào trong. Văn Hòa lại một lần nữa cảm nhận được cảm giác tức ngực khó thở: “Phía trước đường đang sửa, hẹp lại rồi, không vào được.”
Chu Minh Sơ nghiêng đầu nhìn cô. Văn Hòa siết chặt tay một cái, rồi rất nhanh bình tĩnh lại dưới ánh nhìn của anh: “Tổng giám đốc Chu, tôi cần đợi bạn ở đây, phiền anh dừng ở đây là được.”
Chu Minh Sơ nhìn thấy bàn tay cô siết chặt rồi lại thả lỏng, cũng nghe ra hơi thở bị nén lại của cô. Trông như cô đã quyết tâm giữ thái độ khách sáo với anh, anh cũng không nhiều lời, dứt khoát mở khóa xe, đợi cô xuống, rồi đạp ga rời đi.
Mao Lộ Lộ đi tới, nhìn thấy phía đuôi một chiếc X7. Gọi xe mà gọi trúng dòng BMW này không phải chuyện thường, cô ấy giơ ô lên hỏi: “Ai vậy?”
“Ông chủ bên mình.” Văn Hòa nói. “Chính là con trai của cổ đông bên các cậu.”
Mao Lộ Lộ giật mình, thấy trùng hợp quá mức: “Tối nay anh ta còn ăn cơm ở chỗ bọn mình, cả nhà họ.” Ngừng một chút, cô ấy nghi hoặc hỏi: “Sao hai người lại đi cùng nhau?”
“Em gái anh ta… con gái của mẹ kế anh ta xảy ra chút chuyện, mình tình cờ gặp.” Văn Hòa sợ làm hỏng cái ô mượn được, thu lại cẩn thận rồi cúi người chui vào dưới chiếc ô lớn của Mao Lộ Lộ. Hai người một bước sâu một bước cạn đi về nhà, tiện đường kể sơ qua chuyện của Lư Tĩnh Châu.
Ngay cả Mao Lộ Lộ không có mặt tại hiện trường, nghe xong cũng thấy rùng mình. Nhưng nghe cô nói sau khi tỉnh lại Lư Tĩnh Châu rất bình tĩnh, không khỏi kỳ quái:
“Người trong nhà ông sếp của cậu sao ai cũng thế này… kiểu đều có chút không bình thường vậy?”
“Không bình thường chỗ nào?”
Mao Lộ Lộ kể lại cảnh Chu Minh Sơ cùng cả nhà ăn cơm: “Cảm giác quan hệ không thân thiết.” Thân hơn một chút chỉ có hai anh em, mà mẹ con họ tuy tối nay không cãi nhau, nhưng lúc nào cũng có cảm giác sắp cãi tới nơi.
Mao Lộ Lộ nói: “Ông chủ bên cậu nói chuyện khá thẳng, tính cách anh ta có hơi kỳ quặc không?”
“Anh ta vốn là vậy.” Văn Hòa nhớ lại Chu Minh Sơ tối nay, cũng thấy anh thật sự khó hiểu, không thể nói lý.
Đến thứ Bảy, Văn Hòa đi cùng Tiêu Tiêu tìm nhà.
Tiêu Tiêu tìm được công việc mới rất nhanh, cô vào DC. Chút ân tình từ triển lãm trước đó nhanh chóng phát huy tác dụng, cô ấy tự giễu: “May mà tôi tự xin nghỉ, chứ nếu bị sa thải thì chưa chắc DC đã nhận.”
Văn Hòa hỏi: “Chẳng phải cậu nói muốn sang nương nhờ Khương Khương sao?”
“Chỉ nói cho có thôi, mảng y học thẩm mỹ mình có làm qua đâu.” Tiêu Tiêu tính tình nóng nảy, nhưng thực chất lại thuộc kiểu tương đối bảo thủ, thiên về ổn định, thuận theo. Nghỉ việc rồi là phải tìm chỗ mới ngay, lại còn phải là lĩnh vực mình quen thuộc. Bảo cô ấy giống Khương Khương, một đầu lao thẳng vào ngành mới tinh, với cô ấy mà nói chi phí quá cao.
Rồi cô ấy lại nói: “Khương Khương thì khác, người ta là kiểu muốn làm chủ, nói sau này tự mình làm cơ.”
Nói thật thì Tiêu Tiêu cũng có hơi hối hận vì rời E Khang, cảm thấy lúc đó mình quá bốc đồng. Nhưng giờ có hối cũng vô ích, may mà công ty mới cũng không tệ, chỉ là phải chuyển nhà.
Chuyện chuyển nhà này, Văn Hòa tìm cô em họ Chung Lộ. Chung Lộ đúng lúc làm bên mảng cho thuê, dẫn hai người chạy khắp các khu chung cư suốt cả ngày, còn giúp mặc cả giá, vừa nhiệt tình vừa tận tâm.
Đợi xem xong nhà ký xong hợp đồng, cô ấy còn trả lại cả phí môi giới, cười ngây ngô nói với Tiêu Tiêu: “Chị là bạn của chị họ em, giúp chút việc nhỏ là chuyện nên làm.”
Tiêu Tiêu rất có thiện cảm với cô bé này, cũng cười với cô ấy: “Vậy cùng đi ăn bữa cơm nhé, dù sao chị cũng phải cảm ơn em.”
Ban đầu Chung Lộ không dám nhận lời, đợi Văn Hòa cũng gọi, cô ấy mới vui vẻ đi theo.
Tiêu Tiêu thấy lạ, hỏi Văn Hòa: “Em gái cậu sợ cậu à?”
Văn Hòa lắc đầu: “Chỉ là bình thường ít qua lại, không quen lắm.”
Trong lúc ăn cơm nói chuyện phiếm, Chung Lộ ở Quảng Châu không có nhiều bạn bè, khó lắm mới có dịp đi chơi cùng Văn Hòa và Tiêu Tiêu, miệng gần như không ngừng, hỏi gì cũng nói, tình hình của mình tuôn ra hết một lượt.
Chỉ là khi nói tới bạn trai thì có hơi ấp a ấp úng, nói muốn chia tay anh ta: “Anh ấy chê em kiếm tiền ít… dạo trước em gãy xương ở nhà không đi làm, anh ấy còn giục em chia tiền thuê nhà.”
Tiêu Tiêu nổi giận: “Đàn ông kiểu gì thế này, sao em lại để ý tới anh ta được?”
Chung Lộ cúi đầu, nhìn chằm chằm đôi đũa nghĩ rất lâu: “Lúc đầu anh ấy không như vậy…”
Văn Hòa nhìn cô ấy một cái.
“Xin lỗi làm phiền, đồ uống của các chị đây.” Nhân viên bưng mấy ly nước tới, đều là đồ lạnh. Văn Hòa uống mấy ngụm thì thấy bụng hơi trĩu xuống, Tiêu Tiêu hỏi: “Có phải sắp tới kỳ không?”
“Chắc vậy.” Văn Hòa tính thời gian, đại khái là mấy ngày này.
Chung Lộ vội đứng dậy, chạy tới khu trà nước tự phục vụ pha cho cô một cốc trà hoa: “Uống cái này cho ấm, lạnh bụng là đau bụng kinh đấy, khó chịu lắm.”
Hơi nóng, Văn Hòa thổi bớt rồi nhấp một ngụm, đặt lòng bàn tay lên cốc, thấy dễ chịu hơn một chút.
“Chị.” Ăn xong Chung Lộ hỏi: “Trung thu chị có về nhà không?”
Văn Hòa gật đầu: “Chị có ngày nghỉ bù, sẽ về sớm.” Đều là tích lũy từ những lần đi triển lãm trước đó, vừa hay dùng được vào dịp Trung thu, tránh cao điểm.
Hôm đó về tới nhà, Văn Hòa gọi điện cho Khương Khương trước, rồi liên lạc lại với Chung Lộ, giới thiệu cô ấy qua chỗ Khương Khương: “Cũng là làm sales, ngày nào cũng phải chạy bên ngoài, nhưng lương cứng cao hơn chỗ em bây giờ, hơn nữa bên họ có ký túc xá. Em tự cân nhắc nhé, thấy ổn thì qua thử.”
“Vâng vâng vâng, em nhất định đi!” Chung Lộ mừng rỡ đến ngạc nhiên, nói mình cũng đang muốn đổi việc, vì làm cho thuê chỉ đủ tiền ăn, cửa hàng còn đủ kiểu khấu trừ, ngày nào tới nơi cũng phải họp hai tiếng, đứng đến hoa mắt chóng mặt.
Văn Hòa cầm điện thoại nghe cô ấy cảm ơn không ngớt, như thể nhìn thấy chính mình lúc mới tới Quảng Châu.
Khi đó trông thế nào, gò bó, thật thà, cẩn thận từng li từng tí, người ta cười với mình một cái là đã thấy thỏa mãn, gặp người mặt mày cau có thì sợ. Nghĩ kỹ lại, thật ra cũng chẳng có gì đáng sợ.
Hôm sau là Chủ nhật, Văn Hòa dậy giặt hết những thứ trong nhà có thể giặt, lau sàn sáng bóng, cả người như có sức dùng không hết.
Bên ngoài nắng rất to, Văn Hòa nhớ trước đó Chương Như hẹn cô đi chơi ném đĩa, liền gọi điện qua. Bàn tới bàn lui một hồi, cuối cùng Chương Như nói đi đánh cầu lông.
Văn Hòa theo cô ấy tới một sân cầu lông ở Việt Tú, Chương Như nói hẹn là chồng của một người chị em của cô ấy, tới nơi mới phát hiện còn có Diệp Ấn Dương và Chu Minh Sơ.
Chu Minh Sơ đang đánh đôi với người ta. Trong ấn tượng của Văn Hòa, hình như đây là lần đầu tiên cô thấy anh đánh cầu lông. Anh đập cầu vừa nhanh vừa mạnh, tạo áp lực cực lớn cho đối thủ.
Mỗi cú đánh của anh đều có mục đích và tính uy hiếp rất rõ. Có người đứng bên sân hò hét: “Tổng giám đốc Chu từ từ thôi, đừng đánh gãy vợt, quay đầu lại còn phải đi căng dây nữa đấy!”
Chương Như giới thiệu với Văn Hòa người đó: “Đây là Tổng giám đốc Tuấn, chồng của Giai Giai.”
“Tổng giám đốc Tuấn chào anh.” Văn Hòa biết Giai Giai, bọn họ từng cùng nhau đi bar chơi, cô vẫn còn ấn tượng rất sâu với Giai Giai để kiểu tóc công chúa cắt ngang.
“Chào chào.” Đỗ Tuấn chào lại cô một tiếng, ánh mắt vẫn dõi về sân cầu bên kia, đang đánh rất hay.
Thể lực của Chu Minh Sơ đã tới mức hễ đối phương dám bổng cầu lên là anh dám đập thẳng xuống, rõ ràng là muốn tốc chiến tốc thắng. Đối diện bất ngờ đập trả một cầu, anh xoay người mà vẫn đỡ được, lực ở bàn chân lớn đến mức thảm cao su dưới chân cũng bị đạp biến dạng.
Quả cuối cùng, một cú bật nhảy đánh sát lưới, trông thậm chí có phần bạo lực.
Chương Như bị dọa giật mình: “Anh ta là đang đánh cầu hay đánh nhau vậy, đáng sợ thế.”
Văn Hòa cũng hơi bị chấn động, thầm may mắn người đối đầu với anh không phải là mình.
Nhưng chỉ trong lúc đổi sang đôi giày khác, đã nghe tin đối thủ của anh bị căng cơ, đoán là lúc đỡ quả cầu cuối cùng không khống chế được lực, kéo trúng eo.
Đối phương ôm cái lưng già vừa cười vừa mắng, nói sau này nhất định không đánh với Chu Minh Sơ nữa, đánh chung với anh thì sướng thật, nhưng đứng đối diện thì phải căng mười hai phần tinh thần.
“Ghê thật đó, Tổng giám đốc Chu.” Đỗ Tuấn nhướng mày nói: “Hỏa khí lớn ghê, chắc tích lực bao lâu rồi xả hết ra sân bóng nhỉ.”
Chu Minh Sơ khá là… không phải người, đáp lại rằng đối phương vừa tới là vào sân ngay, không khởi động giãn cơ.
Anh ra mồ hôi rất nhiều, dùng khăn lau mặt và cổ, đứng bên sân thay áo, cả lưng đẫm mồ hôi.
Văn Hòa dời ánh mắt đi, đúng lúc Đỗ Tuấn đề nghị: “Hôm nay hiếm có bạn cầu nữ, hay là làm một ván đánh đôi nam nữ?”
Đôi nam nữ, anh ta đã kết hôn đương nhiên không tham gia, vậy chỉ còn bốn người bên E Khang.
Chương Như thuộc dạng đánh đơn còn chưa hiểu rõ, nghe nói phải bốc thăm chia đội thì do dự nhìn Chu Minh Sơ một cái. Văn Hòa biết cô ấy không quen Chu Minh Sơ, liền chủ động bước qua: “Tôi đánh với Tổng giám đốc Chu.”
Chu Minh Sơ đang quấn lại tay cầm vợt, thái độ không sao cả.
Đối thủ lúc nãy nhắc nhở: “Người đẹp, đánh với anh ta thì phải cẩn thận, người này nghiện đập cầu lắm, nhớ cúi thấp người, ngồi thấp xuống.”
“Vâng.” Văn Hòa gật đầu, thấy Chương Như ở bên kia buộc tóc, dây thun rơi xuống đất, Diệp Ấn Dương nhặt lên đưa cho cô ấy, nói gì đó. Chương Như tháo khuyên tai, lén lút bỏ vào túi anh ta.
Cặp này tình cảm chắc chắn rất tốt.
Vị Tổng giám đốc Diệp này là năm ngoái được điều tới công ty. Lúc anh mới tới, Văn Hòa nhớ Dương Vũ còn chẳng để anh vào mắt, thậm chí sau khi thăm dò còn cho rằng vị giám đốc thu mua này tính tình bình thường, năng lực cũng thường, dần dần liền thả lỏng cảnh giác. Bề ngoài thì nịnh nọt, trong lòng lại chẳng thấy anh ghê gớm đến đâu, kết quả chẳng bao lâu, chính vị Tổng giám đốc Diệp này đã lấy anh ta ra làm nhát dao đầu tiên.
Thì ra người có vẻ ngoài ôn hòa, lúc ra tay cũng chẳng chừa đường lui.
Văn Hòa nghĩ tới chuyện đó liền có chút xuất thần, đến khi Chu Minh Sơ đi tới phía sau cũng không hay biết.
Chu Minh Sơ hỏi: “Cô đứng trước hay đứng sau?”
Cô như không nghe thấy, đứng yên không nhúc nhích, đến khi anh đi tới trước mặt cô mới có phản ứng, nhưng lại là vô thức lùi về sau một bước, như thể anh là loại người nguy hiểm cần phải tránh xa.
Sắc mặt Chu Minh Sơ trầm xuống, buông một câu: “Cô đứng phía trước, đỡ cầu lưới.”
Văn Hòa cảm thấy mình bị coi thường, cau mày nói: “Tôi đã đánh đôi nhiều lần rồi.”
Chu Minh Sơ quay người đi thẳng.
Văn Hòa cảm thấy không thể giao tiếp với anh thì thôi không giao tiếp nữa, dù sao cũng chỉ là một trận giao hữu, chắc cũng kết thúc rất nhanh.
Sau khi trận đấu bắt đầu, cô phụ trách chắn lưới, Chu Minh Sơ đứng phía sau phụ trách đập và bỏ nhỏ. Lúc đầu còn khá suôn sẻ, chỉ là tần suất động tác của Chu Minh Sơ quá nhanh, dần dần Văn Hòa cảm thấy đuối sức.
Cũng không biết Chu Minh Sơ bị làm sao, rõ ràng ham thắng rất mạnh, cũng rõ ràng có thể tốc chiến tốc thắng, vậy mà đến cả những quả Chương Như đánh ra ngoài biên anh cũng đập trả lại.
Văn Hòa trơ mắt nhìn thời gian thi đấu bị kéo dài, bắt đầu cảm thấy anh là cố ý — cố ý kéo dài thời gian để bào mòn thể lực của cô. Trán cô toát mồ hôi lạnh, bụng dưới cũng như bị chèn ép.
Đến lúc nghỉ giữa hiệp, hai mắt cô đờ đẫn nhìn chằm chằm xuống mặt đất. Chu Minh Sơ đi tới: “Bị bệnh à?”
Văn Hòa lắc đầu: “Không có.”
Chu Minh Sơ đưa mắt nhìn qua nhìn lại trên mặt cô hai lượt, bình thản nói: “Khó chịu thì kêu dừng, đừng giống uống rượu, không được cũng cố cho được, chỉ là gắng gượng, thiệt thòi cuối cùng vẫn là cô.”
Văn Hòa nhớ lại đêm ở Thâm Quyến bị người ta ép uống rượu, nghiến răng đứng dậy: “Tôi có thể.”
Nhưng chưa được bao lâu sau khi vào hiệp sau, cơn đau kéo từng đợt ở bụng dưới khiến cô nhận ra chắc là đến kỳ kinh. Cố gắng cầm cự tới ván cuối thì trước mắt đã hoa lên, thậm chí còn hơi buồn nôn, gần như không nhìn rõ bóng, liền bị đối phương đập cầu kết liễu.
Trận cầu thua rồi, nhưng cả người cô lại thở phào nhẹ nhõm.
Chương Như cũng nhận ra cô không ổn, đánh xong đòi đưa cô về nhà. Lúc thu dọn đồ đạc, cô nghe thấy Đỗ Tuấn cười trêu Chu Minh Sơ: “Sao thế Tổng giám đốc Chu, vợt mới chưa quen tay à, sao càng đánh càng ít đập cầu thế?”
Văn Hòa uể oải liếc Chu Minh Sơ một cái.
Cô và anh thực sự chẳng có mấy ăn ý. Góc đánh của anh rất hiểm, không biết từ đâu là bóng đã bay sang, mà bụng cô lại khó chịu, động tác chắc chắn chậm hơn. Có lẽ anh cũng thấy phối hợp với cô khá mệt, nên dứt khoát giảm hẳn những cú đập.
“Người đẹp! Đi thôi đi thôi.” Chương Như cầm chìa khóa xe chạy tới, khoác tay kéo Văn Hòa đi. Trên đường biết cô đang đến kỳ kinh, còn đưa cô về tận nhà tìm thuốc cho uống.
Văn Hòa ôm túi chườm nước nóng: “Không sao, mình hết đau rồi.”
Tiễn Chương Như về xong, Văn Hòa nằm lên giường mơ màng ngủ một lúc, cho đến khi Lương Côn Đình gọi điện rồi gõ cửa nhà cô.
Ngoài cửa, Lương Côn Đình mặc áo thun rộng, quần lửng, chân đi dép lê, chiếc áo còn bị mắc áo chống lên thành góc. Văn Hòa bỗng bật cười.
Lương Côn Đình hỏi: “Cười cái gì?”
Văn Hòa nhớ lại dáng vẻ của anh lúc đi làm: “Thấy anh mặc thế này không hợp với hình tượng của anh lắm.”
Lương Côn Đình nói: “Trang phục tiết kiệm của tỉnh Quảng Đông.” Anh hơi nghiêng đầu: “Cô có nói vòi nước ban công bị rò rỉ phải không? Chú tôi bảo tôi sang xem giúp, tôi vào được chứ?”
Văn Hòa khựng lại một chút, nghiêng người nhường lối: “Anh vừa tan làm à?”
Lương Côn Đình gật đầu, than thở là tìm chỗ đỗ xe mãi không ra.
Khu này từ khi chỉnh trang lại rồi sửa đường, xe không chạy vào được, chỗ đỗ dưới nhà cũng bị bỏ, anh còn than phiền bác mình: “Đã thế còn lắp khóa bánh xe, đúng là tốn công vô ích.”
Trời đã chạng vạng tối, Văn Hòa bật đèn ban công.
Cô nấu ăn ở ban công, đồ dùng nhà bếp được bày biện rất gọn gàng, dưới đất còn đặt một kệ cây xanh, bàn gấp phủ một tấm khăn rất đẹp, tổng thể trông vừa ấm áp vừa dễ chịu.
Lương Côn Đình nói: “Nhà cô nhìn rất hợp để nuôi thú cưng.”
Văn Hòa cũng từng nghĩ tới, nhưng lại lo lắng: “Chú Lương chắc không cho nuôi đâu nhỉ?”
“Chú ấy tự nuôi cả một nhà mèo chó rồi, cô muốn nuôi thì có thể tìm chú ấy xin một con.” Lương Côn Đình vặn thử vòi nước đã bị lỏng, móc từ túi quần ra một chiếc mỏ lết mượn ở phòng dụng cụ dưới lầu, tháo lõi van ra xem qua rồi lắp lại, vặn chặt, nước liền không còn rò nữa.
Văn Hòa đi tìm dung dịch rửa tay cho anh. Lương Côn Đình rửa xong, lau tay, thấy tóc cô hơi rối, người cũng có phần lờ đờ, dưới ánh đèn làn da mang vẻ mềm mại chưa tỉnh hẳn.
Hai người đứng trên ban công vốn chẳng rộng rãi gì, Lương Côn Đình giơ tay giữ lấy vai cô, đột ngột cúi đầu hôn tới.
Văn Hòa ngửi thấy trên người anh mùi nước sát trùng, vội vàng né đi, nhưng lại liếc thấy phía tiệm thuốc có một chiếc X7 quen mắt, không biết đã đỗ ở đó bao lâu rồi.
Tim Văn Hòa khẽ nhảy lên, cô nhận ra đó là xe của Chu Minh Sơ, nhưng vì không đeo kính, mãi đến khi nhìn thấy đèn hậu của chiếc xe bật sáng rồi rời đi, cô vẫn còn ngờ ngợ không biết mình có nhìn nhầm hay không.
HOA ĐÔ – CHƯƠNG 32
Chương 32: Anh xấu xa thật đấy – Cô ở bên tên bác sĩ đó rồi à?
*
“Xin lỗi.” Lương Côn Đình ghé sát bên tai cô nói lời xin lỗi: “Hình như tôi hơi nóng vội rồi.”
Văn Hòa chớp mắt, chậm rãi quay ánh nhìn lại.
Lương Côn Đình nói: “Tôi còn tưởng cô sẽ đánh tôi.” Anh nửa thật nửa đùa: “Tôi đã chuẩn bị tinh thần bị tát một cái rồi.”
Văn Hòa cúi đầu nhìn mũi giày của mình: “Có lẽ chỉ là tôi chưa kịp phản ứng.”
Lương Côn Đình cười một tiếng, đứng dậy.
Quả thật lúc đó anh không kiềm chế được, rất muốn hôn cô, nhưng bị từ chối cũng không cảm thấy mất mặt, trái lại còn có một sự bình tĩnh xen lẫn chút ranh mãnh như đã sớm đoán trước.
“Còn chỗ nào cần sửa nữa không?” Anh nhìn quanh một vòng, nhặt chiếc lá rơi ném vào thùng rác, tiện mắt liếc ra ngoài, trời đã gần như tối hẳn.
Có một cuộc gọi đến, Lương Côn Đình trượt tay nghe máy, nghe xong thì day mí mắt, tự giễu nói mình đúng là lao động không công: “Sau này không làm bác sĩ nữa thì cũng có thể đi làm thợ điện nước.”
Văn Hòa nghe đại khái, hình như là chủ nhà lại gọi anh sang giúp việc gì đó.
Cô rút hai tờ giấy lau khô mép bồn rửa: “Anh đi đi, làm xong sớm thì nghỉ ngơi sớm, ngày mai còn phải trực.”
Lương Côn Đình đi ra ngoài, thấy cô bày mấy chai vang đỏ trên tủ: “Ở nhà cô cũng uống rượu à?”
Văn Hòa nói: “Có uống một chút.” Cô muốn luyện tửu lượng, sau này sẽ không vì uống kém mà lại bị gạt ra ngoài trong một số dịp nữa.
Không trên không dưới, cô tiễn Lương Côn Đình ra khỏi cửa.
Văn Hòa vẫn chưa ăn tối, buổi chiều chơi bóng tiêu hao thể lực khá nhiều, bụng vừa rỗng là đã âm ỉ đau.
Cô không còn sức nấu ăn, lôi bánh mì nướng ra ăn một lát rồi uống thuốc, nhưng lúc này uống thuốc cũng chẳng còn tác dụng mấy, bụng dưới đau như bị chuột rút, trong đầu cũng như có một sợi gân bị vặn mãi không thẳng ra được.
Nghĩ tới chiếc xe đó, cô cảm thấy mình không nhìn nhầm, liền lấy điện thoại gọi đi.
Điện thoại được bắt máy rất nhanh, nhưng vẫn như mọi khi, đầu bên kia không có tiếng động.
Văn Hòa biết anh đang nghe: “Tôi có một câu muốn hỏi Tổng giám đốc Chu.” Giọng cô cứng ngắc: “Vừa rồi anh có phải đứng dưới nhà tôi không?”
Chu Minh Sơ đáp: “Phải.”
“Rốt cuộc anh có ý gì?” Văn Hòa không hiểu nổi anh: “Sao lại còn quay lại?”
Chu Minh Sơ nói: “Muốn đi thì đi thôi.”
Thái độ hờ hững này khơi lên trong lòng Văn Hòa một nỗi căm ghét mơ hồ, cơn giận bốc lên khiến cô buột miệng: “Anh lúc nào cũng tùy tiện như vậy, không tôn trọng người khác thế sao?” Cô hỏi từng chữ một: “Hay là anh thiếu đàn bà đến mức đó?”
“Cô thấy tôi thiếu à?” Giọng Chu Minh Sơ vẫn bình tĩnh như cũ.
Văn Hòa tức đến nghẹn họng.
Chương Như từng hỏi cô có phải đang yêu đương với Chu Minh Sơ không, câu hỏi đó từng khiến cô hoảng sợ, bởi vì khi ấy trong lòng cô đã hiểu rất rõ, cô chỉ xứng làm bạn tình của anh.
Dù trước đó cô chưa từng nghĩ mọi chuyện sẽ thành ra như vậy, dù thái độ anh có kén chọn đến đâu, cô cũng chưa từng nghĩ mình chỉ đáng để làm bạn giường chiếu của anh.
Nhưng Chu Minh Sơ đối với cô chỉ là ham muốn trần trụi, cô dễ dàng lên giường với anh, vì thế anh càng mang một kiểu kiêu ngạo vừa khinh thường vừa nắm chắc phần thắng. Nhưng cô nghĩ anh đã hoàn toàn đánh giá sai cô, một đêm tình một lần với anh đã là chuyện vượt quá giới hạn nhất mà cô từng làm trong đời này, vậy mà anh còn muốn giở lại trò cũ, tưởng rằng chỉ cần mấy câu nói là có thể khơi ra vô số ảo tưởng của cô, để cô tự say mê viết nên những đoạn độc thoại trong đầu, rồi lại tiếp tục qua đêm với anh hết lần này đến lần khác.
Chỉ cần hơi hồ đồ một chút thôi, cô lại sẽ rơi vào cái bẫy được tính toán bằng dăm ba câu của anh.
Văn Hòa càng nghĩ càng giận, không nhịn được mắng một câu: “Công việc thì không nhìn ra, nhưng anh thật sự rất vô liêm sỉ.” Mắng xong, cô lập tức cúp máy.
Chu Minh Sơ liếc nhìn màn hình điện thoại, đèn đỏ chuyển sang xanh, anh tiếp tục lái xe đi.
Vào đến nhà hàng thì Hứa Minh Xán cũng vừa mới tới, đứng ở khu thang máy vừa xoa cổ tay vừa đợi anh: “Muộn thế này, bọn tôi chờ cậu lên món.”
Chu Minh Sơ nói: “Mạch Khôn chẳng phải còn chưa xuất phát sao?”
Hứa Minh Xán cười nhạo anh: “Người ta còn phải lo sắp xếp cho vợ, cậu thì có ai cần cậu sắp xếp đâu? Lại đến muộn thế này.”
Hai người cùng vào thang máy lên lầu, vào phòng riêng, chào hỏi mấy vị trưởng bối.
Các trưởng bối đang uống trà, cha Chu hỏi Hứa Minh Xán: “Bạn gái của A Xán đâu? Chẳng phải nói là dự định kết hôn rồi sao?”
Ngồi uống trà với ông là ba của Hứa Minh Xán, ông có đôi tai Phật, mắng con trai: “Thằng này kén chọn, chia tay người ta rồi.”
Trước mặt ba mình, Hứa Minh Xán vẫn chỉ là một đứa con trai, gãi sau đầu nói: “Biết làm sao được, thật sự không hợp, chẳng lẽ con nhắm mắt kết hôn à, hại người hại mình.”
Anh và cô gái đó lúc đầu cũng ổn, nhưng thời gian dài dần, vấn đề cũng từ từ lộ ra.
Cô gái này tính cách đúng là khá hoạt bát, cởi mở, nhưng chỉ cần ra ngoài ăn một bữa cơm bình thường, nếu có bạn bè đùa hỏi tuổi tác, cô ấy sẽ nói mình bốn mươi, ly hôn, còn dắt theo hai đứa con, hơn nữa còn đáp lại bằng thái độ rất thiếu khách khí. Có lẽ cô ấy tự cho là mình hài hước, làm trò cho vui, nhưng những kiểu “chơi chữ” trên mạng đem ra dùng trong các tình huống giao tiếp bình thường, thực tế chỉ khiến người khác cảm thấy gượng gạo, bất lịch sự.
Trong đầu cô ấy dường như đã bị cài sẵn một hệ quan niệm: nhất định phải “đấu trời đấu đất”, trông như vậy mới gọi là hào nhoáng, nổi bật.
Cô ấy cũng rất nhiệt tình, ví dụ như lúc ở khách sạn, trước ánh mắt tò mò, bàn tán của nhân viên, cô ấy hôn anh. Nhưng chỉ cần thấy người ta nhấc điện thoại lên là cô ấy cho rằng bị chụp lén, liền chạy tới yêu cầu đối phương photoshop ảnh cho mình. Tuy giọng điệu là đùa cợt, nhưng cũng đủ khiến người trong cuộc lúng túng, khó xử.
Lại ví dụ như cô ấy tự ý vào nhóm chat lớn của nhân viên khách sạn, lúc mọi người đang báo cáo công việc thì cô ấy gửi mấy thứ không đúng lúc đúng chỗ. Hơn nữa cô ấy còn mắc chứng ám ảnh cưỡng chế, ăn cơm nhai mấy miếng cũng phải đếm, tô son xong bặm môi mấy lần đều có con số cố định, nhiều hay ít đều phải làm lại, nếu không thì cô ấy thấy khó chịu, mà anh cũng đừng hòng yên ổn. Hứa Minh Xán bị cô ấy kéo theo mà lo lắng, nhưng trong lòng vẫn luôn tự định nghĩa những chuyện đó chỉ là thói quen sinh hoạt nhỏ nhặt, cho tới khi cô ấy nổi giận với nhân viên khách sạn, chỉ vì đĩa trái cây mang tới không phải số chẵn theo yêu cầu của cô ấy, liền trực tiếp đập vỡ cái đĩa.
Những chuyện này nói lớn cũng được, nói nhỏ cũng xong, nếu chỉ là yêu đương thì còn tạm chấp nhận, nhưng đã xác định hướng tới hôn nhân, thì nhất định phải suy nghĩ cho thật kỹ.
Ba Chu nghe xong cười cười: “Kết hôn không phải chuyện nhỏ, quả thật phải nghĩ nhiều hơn.” Chỉ dựa vào một phút bốc đồng, sớm muộn cũng ngã sấp mặt.
Không lâu sau thì vào bàn, ba Chu nhắc tới chuyện mấy hôm trước ông đi mua một buồng oxy cao áp. Thứ này cũng được xem là thiết bị y tế, ông liền hỏi ý kiến Chu Minh Sơ. Chu Minh Sơ nói trong ngành cũng có người đang làm, còn về hiệu quả, quan điểm hiện tại của anh là: “Có thể coi như một thiết bị chăm sóc sức khỏe.”
Ba Hứa nói: “Ông có hít thêm bao nhiêu oxy đi nữa, tiền kiếm được cũng không mang theo được.”
Ba Chu nói: “Vậy bây giờ ông đem tiền đi quyên góp đi.”
“Ông quyên trước đi, tôi theo sau quyên gấp đôi.” Ba Hứa thuận theo rất nhanh.
Ba Chu cười, coi như bỏ qua.
Con người một cách rất tự nhiên mà già đi, trở nên xảo quyệt hơn, trở nên sợ chết hơn, đương nhiên cũng càng muốn gần gũi con cái. Chỉ là tình cảm cha con đã nhạt đến mức không còn cách nào bù đắp, ông cũng không nói rõ được là từ năm nào, đứa con trai này bắt đầu trở nên ít nói, trước mặt ông thì tiếc chữ như vàng.
Ông biết mình đã không xử lý tốt mối quan hệ cha con, hoặc nói đúng hơn là mọi quan hệ gia đình đối với ông đều xem như thất bại. Đến cái tuổi này rồi cũng chẳng còn cách nào bù đắp, theo lý mà nói thì động không bằng tĩnh, nhưng mỗi lần gặp mặt, ông vẫn không nhịn được mà muốn nói vài câu.
Ví dụ như: “Mấy hôm trước tôi đi dự hoạt động của hội giám đốc tư nhân, gặp cô gái họ Giang đó… tôi nhớ hiện tại trong công việc các con cũng có giao điểm mà?”
Ông nói tới Giang Hân, Chu Minh Sơ đáp: “Khách hàng của công ty.”
Vậy chắc giao điểm cũng không ít, Ba Chu hỏi: “Con thấy con bé thế nào?”
Chu Minh Sơ nói: “Khách hàng của công ty, không có ý nghĩ gì.”
“Là vì là khách hàng công ty nên mới không có ý nghĩ, hay là hoàn toàn không có ý nghĩ?” Ba Chu nhìn anh, rồi chợt nhớ ra điều gì đó: “Rảnh thì đi thăm ông ngoại con nhiều hơn, người già đến tuổi này còn lặn lội từ xa quay về, chẳng qua là muốn gặp mấy đứa, ông ấy vẫn luôn nhớ tới các con.” Ngừng một lát, ông lại nói thêm: “Nếu có cơ hội, gọi ông ngoại con ra ngoài ăn bữa cơm.”
Chu Minh Sơ coi như không nghe thấy.
Ba Chu sầm mặt xuống, nhưng cũng bất lực nhận ra uy nghiêm của mình hoàn toàn vô hiệu trước đứa con trai này, chỉ đành quay sang cụng ly với Ba Hứa.
Một bữa cơm gần tàn thì cha con Mạch Khôn mới thong thả đến muộn, nói là trên đường gặp tai nạn xe, tiện tay xử lý giúp nên đến trễ, liên tục xin lỗi.
Chuyện cứu người mà, những người khác đều thi nhau khen ngợi, Chu Minh Sơ cũng nói: “Cứu người chữa bệnh, rất vĩ đại.”
Anh hiếm khi nói những lời như vậy, nghe vào lại có chút mùi âm dương quái khí. Hứa Minh Xán thấy lạ: “Sao thế, dạo này kết thù với bác sĩ à?”
Chu Minh Sơ nói: “Nói mấy câu thật thôi, cậu không cần nhạy cảm thế.”
Hứa Minh Xán lại càng thấy lạ hơn, nhìn chằm chằm anh, bỗng hỏi: “Tết năm nay, còn đi An Huy không?”
Chu Minh Sơ không để ý tới cậu ta, mà quay sang chào hỏi cha của Mạch Khôn vài câu, nói là ông bị viêm bao gân.
Ba của Mạch Khôn gạt tay Hứa Minh Xán sang một bên nhìn thử, dùng lực ấn mạnh một cái, trực tiếp ấn vỡ cái u nang của cậu ta.
Hứa Minh Xán suýt nữa thì chết ngay trong nhà hàng.
Lúc ra về thì mỗi người một ngả, Chu Minh Sơ lấy điện thoại ra gọi một cuộc. Gọi thì vẫn thông, nhưng không ai nghe máy.
Ngày hôm sau đi làm gặp Văn Hòa, cô mặc một chiếc váy đen, khoác một chiếc sơ mi có tà dưới rất dài, đứng ở quầy lễ tân nhận chuyển phát.
Nhận xong kiện hàng thấy anh, cô đi theo sau những người khác, chào một tiếng mơ hồ không rõ ràng, có lẽ chỉ mấp máy môi mà chẳng phát ra tiếng, vào thang máy thì tự động đứng sang một bên khác, mắt cũng chẳng thèm nhìn anh, như thể hôm qua chưa từng gọi điện mắng anh, cũng chưa từng bỏ qua cuộc gọi của anh.
Văn Hòa đương nhiên biết anh đã gọi cho mình, nhưng giả vờ như không hay.
Rốt cuộc nửa đêm gọi cho cô là có ý gì, quấy rối hay muốn mắng lại, cô không muốn biết, cũng không muốn hỏi. Cô đã quyết tâm giả câm giả điếc, không tin anh thật sự dày mặt đến mức sẽ chủ động nhắc lại.
Nhưng rõ ràng cô đã đánh giá thấp anh.
Sau cuộc họp tuần, đại lý Hà Bắc liên hệ với Văn Hòa, hỏi cô đã nhận được bánh trung thu chưa, nói có một hộp là gửi cho Chu Minh Sơ, nhờ cô nhất định giúp chuyển lại.
Dịp lễ tết biếu quà là chuyện thường tình, tạo quan hệ tốt với tổng giám đốc hãng cũng là cần thiết. Văn Hòa không còn cách nào khác, đành xách một trong số những hộp đó đi gõ cửa phòng Chu Minh Sơ: “Tổng giám đốc Chu, đây là bánh trung thu do Tổng giám đốc Bì gửi cho anh.”
Chu Minh Sơ ngẩng đầu, nhìn cô rồi lại nhìn quà: “Đại lý Hà Bắc của cô à?”
“Vâng.” Hơi nặng, Văn Hòa đặt đồ lên bàn anh một cách vất vả, chỉ sang hộp còn lại: “Tổng giám đốc Bì nói biết anh thường xuyên đi công tác, nên chọn giúp anh một máy massage, cũng nói nếu anh có dịp đi ngang Hà Bắc thì nhất định ghé tìm ông ấy, ông ấy sẽ tiếp đãi chu đáo.”
Tặng bánh trung thu, thứ rẻ nhất lại chính là bánh trung thu. Ánh mắt Chu Minh Sơ lướt qua chiếc máy massage, nhìn sang cái loa đặt bên cạnh.
Gặp chưa được mấy lần mà đã nắm được sở thích của anh, về mặt nhân tình thế thái, các thương hộ miền Bắc quả thật đều có một bộ cách làm riêng.
Chu Minh Sơ hỏi: “Năm nay số liệu của họ thế nào?”
Văn Hòa nói: “Gần như hoàn thành chỉ tiêu rồi, nói là còn hai gói thầu đang theo, vấn đề chắc không lớn.”
Chu Minh Sơ hỏi tiếp: “Có gói nào của bệnh viện hạng ba tuyến trên lớn không?”
Văn Hòa lắc đầu.
Chu Minh Sơ dựa lưng vào ghế, chậm rãi suy nghĩ: “Hạng ba tuyến trên lớn không chen vào được, bệnh viện nhỏ thì nợ xấu nhiều, có cắn răng bám quan hệ cũng vô ích.”
Trong lòng Văn Hòa cũng hiểu, với tư cách người phụ trách kinh doanh, cô quả thật nên nghiên cứu kỹ những điểm khó trong nghiệp vụ của đại lý: “Vâng, tôi đã sắp lịch rồi, chuẩn bị thu xếp thời gian qua gặp Tổng giám đốc Bì nói chuyện một lần, xem vấn đề rốt cuộc nằm ở đâu.”
Chu Minh Sơ không nói thêm gì nữa, cầm điện thoại lên, trông như chuẩn bị xử lý việc riêng của mình.
Văn Hòa lùi một bước định rời đi, điện thoại trong túi lại rung lên ong ong. Cô lấy ra nhìn thì thấy người gọi đang đứng ngay trước mặt mình.
“Tôi còn tưởng điện thoại cô hỏng rồi.” Chu Minh Sơ tiện tay ném điện thoại mình lên bàn: “Đã không hỏng, vậy tối qua vì sao không nghe?”
Thái độ của anh khiến Văn Hòa nhớ tới chuyện lần trước của Khương Khương, nhưng lần đó là cô sai, còn lần này thì anh lại vô lý ngang ngược.
Văn Hòa hỏi trước: “Xin hỏi là công việc sao?” Rồi cô nói tiếp: “Nếu không phải công việc, tôi không có nghĩa vụ phải nghe điện thoại của Tổng giám đốc Chu ngoài giờ làm việc.”
“Là không có nghĩa vụ, hay là không dám nghe?” Chu Minh Sơ thản nhiên hỏi: “Cô ở bên tên bác sĩ đó rồi à?”
Văn Hòa đột ngột nhìn anh, suýt nữa thì không thở nổi: “Chuyện này liên quan gì tới anh?”
“Vậy tức là vẫn chưa.” Chu Minh Sơ nhìn thẳng vào mắt cô, chậm rãi đưa ra kết luận.
Văn Hòa thấy người này chán đến cực điểm. Lúc cơn giận trong lòng vừa bùng lên, cửa kính bị Kim Linh gõ mở: “Tổng giám đốc Chu, khách bên Dụ Thái tới rồi, Tổng giám đốc Vương mời anh qua đó.”
Người đúng như tên, giọng nói trong trẻo vang vào. Văn Hòa nắm chặt điện thoại, lấy lại bình tĩnh: “Tổng giám đốc Chu, vậy tôi ra ngoài trước.”
Chu Minh Sơ gọi cô lại: “Chờ đã.”
Văn Hòa quay đầu, đến chính cô cũng không nhận ra mình đang hơi nhíu mày.
Chu Minh Sơ chỉ vào hộp bánh trung thu: “Mang đồ này ra chia đi, bảo họ báo danh chỉ tiêu đào tạo, trước tiên cử hai người sang đây huấn luyện, chờ mở hội nghị kênh phân phối rồi xem rốt cuộc đội nhóm có vấn đề ở đâu.”
Văn Hòa khựng lại: “Vâng, cảm ơn Tổng giám đốc Chu.”
Chu Minh Sơ đứng dậy đi ra ngoài.
Văn Hòa chậm rãi giãn chân mày, thu dọn đồ đạc, chia cho Tinh Tinh ăn.
Dạo này bánh trung thu ăn đến phát ngán, Tinh Tinh xiên một miếng nhỏ, tay mở một đường link bình chọn, nói là bạn học nhờ cô ấy bình chọn cho con trai.
Người bạn học này không liên lạc thường xuyên, nhưng lần nào cũng dùng giọng điệu ra lệnh, Tinh Tinh phiền đến mức không chịu nổi: “Có bệnh à, mình đâu có nợ tiền cô ta.”
Văn Hòa hỏi: “Con trai cô ta số mấy?”
“Nói là số 23.” Tinh Tinh đeo kính vào định tìm, Văn Hòa trực tiếp bấm vào cô bé có số phiếu cao nhất: “Hay là cậu bầu cho bé này?” Rồi cô ấy hỏi thêm: “Có cần chụp màn hình gửi lại cho cô ta không?”
“À, vậy thì khỏi.”
“Vậy bầu cái này đi.” Văn Hòa lại giúp cô ấy bấm thêm một cái, trực tiếp gửi đi.
Tinh Tinh ngẩn ra mấy giây, rồi phì cười: “Cậu xấu xa thật đấy.” Cô ấy dùng ngón tay chọc nhẹ vào vai Văn Hòa: “Trước giờ mình không nhìn ra luôn đó.”
Văn Hòa cười một cái, nói là học theo Chương Như. Chương Như còn ác hơn, gửi thẳng link vào nhóm phòng ban, bảo tất cả mọi người bầu cho đối thủ, trong chớp mắt đã vượt lên. Sau đó người họ hàng kia không dám quấy rầy cô ấy nữa.
Vừa tinh quái, vừa xấu xa lại vừa thâm.
Nghĩ lại thì thực ra từ đó cũng có thể rút ra một đạo lý, gọi là trở mặt thì phải sớm.
Buổi trưa đi ăn ở nhà ăn, Văn Hòa và Tinh Tinh tìm chỗ vừa ngồi xuống thì Kim Linh cũng bưng khay tới: “Tôi có thể ngồi đây không?” Cô ta lịch sự hỏi.
“Ngồi đi, chỗ công cộng mà.” Tinh Tinh liếc cô ta một cái, gắp một miếng lươn xào dầu nếm thử, nói là làm chưa ngon: “Thịt già, lại tanh.”
Văn Hòa nói: “May mà mình không lấy món này.” Hôm nay cô ăn chay, không lấy món mặn.
Tinh Tinh hỏi: “Chỗ bọn mình có cơm lươn đó, cậu ăn chưa?”
Văn Hòa lắc đầu: “Mình sợ mấy thứ này lắm.” Giống rắn, từ nhỏ cô đã sợ mấy loài thân mềm.
“Ngốc quá, lươn thật ra ngon lắm, lại còn bổ!” Tinh Tinh nói rất khoa trương. Vừa hay sắp đi team building ở Huệ Châu, cô ấy nói: “Đến lúc đó mình làm cho cậu ăn.”
“Cậu biết làm à?” Văn Hòa hơi không tin.
Tinh Tinh nói: “Có gì khó đâu, ở nhà mình ăn suốt, nhìn cũng nhìn quen rồi.”
Kim Linh ở bên cạnh chen vào một câu: “Đi team building còn phải tự nấu cơm sao?”
“Ừ, mọi người cùng làm cùng ăn, tự tay làm thì mới đủ ăn đủ mặc chứ.” Phần này là do Tinh Tinh cố tình nghĩ ra, cô ấy thấy chắc sẽ có ích cho việc kéo gần khoảng cách trong đội nhóm.
Kim Linh lại cười một cái: “Không cần thiết lắm đâu, team building là để thư giãn, bắt người vào bếp ám đầy mùi dầu khói, khó chịu lắm.”
Còn chưa bắt đầu đã dội nước lạnh, Tinh Tinh bị nghẹn họng. Kim Linh lại chuyển sang bắt chuyện với Văn Hòa: “Chị Văn Hòa, hội nghị kênh phân phối Hoa Bắc chị có đi không?”
Văn Hòa ừ một tiếng: “Có đi.”
Kim Linh nhìn cô, chậm rãi “ồ” một tiếng: “À em quên mất, chị có khách hàng ở Hoa Bắc.” Ngay sau đó, cô ta cười tít mắt hỏi: “Buổi sáng nay mang bánh trung thu tới, chắc là đại lý khu vực Hoa Bắc phải không?”
Văn Hòa không chắc tại sao cô ta lại hỏi thừa như vậy, nhưng vẫn gật đầu: “Đúng thế.”
Kim Linh cười rạng rỡ: “Em đăng ký làm người dẫn chương trình cho buổi đó, còn chị?”
Lúc này Văn Hòa mới nhớ ra, Kim Linh không chỉ ép Tiêu Tiêu rời đi, mà còn tiếp nhận luôn đại lý của Tiêu Tiêu, vì vậy cô ta cũng có tư cách tham dự hội nghị kênh bên đó.
Ăn cắp của người khác mà còn đắc ý như thế, Văn Hòa nhìn cô ta chăm chú một lúc: “Chị đăng ký vào tổ công tác.”
“Chị Văn Hòa không muốn làm MC sao?” Kim Linh lại hỏi thêm một câu, có chút khí thế bức người.
Cái khí thế này đúng với ấn tượng ban đầu của Văn Hòa về dân bán hàng, bởi vì dám nói, dám hỏi, dám tranh giành, ngược lại sẽ giành được một số quyền lực mang tính ép buộc, ví dụ đối phương buộc phải trả lời, hoặc sợ xung đột mà phải tránh né, từ đó có phần kiêng dè.
Cô nghĩ rồi nói: “Lãnh đạo cũng có hỏi chị có muốn đăng ký không, nhưng chị nghe nói chị Bình và mấy người nữa cũng đăng ký rồi. Chị cảm thấy họ sẽ hợp hơn, dù sao kinh nghiệm và thâm niên đều có, họ trấn được sân khấu tốt hơn. Em thấy sao?”
Sắc mặt Kim Linh hơi khựng lại, miễn cưỡng phụ họa một câu, rồi không nhắc đến đề tài này nữa.
Tinh Tinh cố nén cười, đưa tay khẽ vỗ lên đùi Văn Hòa, Văn Hòa thấy ngứa, gãi gãi, thì Mạnh Trân Trân đi tới: “Đói chết tôi rồi.”
Tinh Tinh hỏi: “Sao cô tới muộn thế?” “Dạo này chẳng phải có cuộc họp sao, Tổng giám đốc Diệp nghiêm lắm, tài liệu của chúng tôi bị trả lại mấy lần, sợ sai sót nên cứ kiểm tra đi kiểm tra lại.” Mạnh Trân Trân đói đến mức dạ dày xẹp lép, vừa đi vừa nhét đồ ăn vào miệng.
Người mà cô ấy vừa than phiền Tổng giám đốc Diệp đang ở ngay phía sau không xa, nói chuyện với mấy người bên thu mua. Tinh Tinh hỏi: “Dạo này hình như nhiều việc đều do Tổng giám đốc Diệp dẫn các cậu làm à?”
Mạnh Trân Trân gật đầu: “Không còn cách nào khác, Chủ tịch dạo này đều ở Singapore, chỉ có thể tìm Tổng giám đốc Diệp… ừm, còn có cả Tổng giám đốc Chu.”
Câu sau này giống như được thêm vào vội vàng, Tinh Tinh và Văn Hòa liếc nhau, đều nghĩ đến việc công ty đang khuyết vị trí tổng giám đốc, mà ứng viên được đồn đoán chính là Chu Minh Sơ và Diệp Ấn Dương.
Tinh Tinh thì thầm: “Ý này sao lại giống… Tổng giám đốc Diệp vậy?”
Thực ra nói hơi mập mờ, cũng không quá to tiếng, nhưng Kim Linh lại bất ngờ chen vào: “Tôi thấy là Tổng giám đốc Chu.”
Cô ta dùng giọng đùa cợt nhìn Văn Hòa: “Bán hàng là lấy thành tích làm trọng, cũng là khâu quan trọng để thực hiện lợi nhuận cho công ty. Ví dụ chuyện thu mua kia chẳng phải cũng giao cho Tổng giám đốc Chu sao? Cho nên Chủ tịch chắc chắn cũng tin tưởng anh ấy… Hơn nữa Tổng giám đốc Chu cũng không ác liệt như Tổng giám đốc Diệp, vừa ra tay đã muốn tống người ta vào tù, đúng không chị Văn Hòa?”
Cô ta đột nhiên nhắc tới chuyện đó, Tinh Tinh giật mình, buột miệng hỏi luôn: “Cô bị điên à?”
Giọng hơi lớn, Kim Linh cũng không ngờ phản ứng của cô ấy lại mạnh như vậy. Có người bên cạnh nhìn sang, Kim Linh khựng lại một chút: “Xin lỗi, là em nói sai.” Nói xong, cô ta bưng khay cơm lên, trước khi đi còn lạnh lùng liếc Tinh Tinh một cái.
Người khác có thể sợ cô ta, nhưng Tinh Tinh thì không. Cô ấy quay sang nói với Văn Hòa: “Kệ cô ta đi, chảnh cái gì chứ?” Giẫm lên nỗi đau của người khác, xé lại vết sẹo cũ, đúng là không phải người.
Càng nghĩ cô ấy càng tức, hạ giọng nói: “Lại còn ủng hộ Tổng giám đốc Chu nữa chứ, chắc cô ta chưa từng bị Tổng giám đốc Chu mắng bao giờ? Tổng giám đốc Chu đâu phải kiểu người mềm tay. Vụ của Dương Vũ lúc đó, ban đầu Tổng giám đốc Diệp còn chưa định đẩy Dương Vũ vào tù đâu, chính là Tổng giám đốc Chu đề nghị báo cảnh sát, phải định tội. Người ác nhất rõ ràng là Tổng giám đốc Chu còn gì?”
Văn Hòa đang uống canh, đột nhiên bị sặc một ngụm, ho đến đỏ bừng cả mặt. Tinh Tinh vỗ lưng cho cô: “Không sao chứ?”
“Không sao, có hạt hoa tiêu, bị sặc một chút.” Văn Hòa xoa ngực, thầm mừng là mình không ho văng vào khay cơm của người khác. Cô lau lại mặt bàn rồi đứng dậy đi trước.
Cô vừa đi, ánh mắt Mạnh Trân Trân nhìn Tinh Tinh đã như nhìn kẻ ngốc: “Cái miệng rách của cô, sau này chuyện gì cũng không thể nói với cô được.”
Tinh Tinh ấp úng: “Văn Hòa có nói lung tung đâu, cậu không tin Văn Hòa à? Miệng Văn Hòa kín lắm.”
“Không phải vấn đề tin hay không tin, mà là cái thói quen này của cô không tốt.” Mạnh Trân Trân cau mày nói: “Thích nói chuyện thế thì đi làm đào tạo đi, suốt ngày ba hoa, sớm muộn gì cũng nói ra chuyện.”
Cô ấy bưng khay cơm đứng dậy, đi ngang sau lưng Tinh Tinh còn đưa một ngón tay chọc vào sau đầu cô ấy, trong lòng thầm nghĩ không biết phòng nhân sự tìm đâu ra mấy nhân vật “ngọa long phượng sồ” làm BP. Nếu nói Chương Như là một vũng bùn trước Phật, thì cô ấy chính là một khúc gỗ mục trước Phật, khó mà đẽo gọt nổi.
Ra ngoài nhìn thấy Văn Hòa, cô đang đứng bên cửa sổ nghe điện thoại, chiếc váy trên người dài quá gối, lộ ra đôi chân thon dài.
Ngực đầy lưng mảnh, ném vào đám đông cũng có thể liếc mắt một cái là thấy ngay. Mạnh Trân Trân nhớ hồi cô ấy mới tới, người nhìn trộm không ít, chỉ là chẳng ai ngờ cô ấy lại quen yêu với tên họ Dương.
Khuôn mặt tên họ Dương thì không có gì để chê, tuyệt đối được coi là đẹp trai, nhưng những thứ khác thì thật sự khó nói hết bằng một câu.
Sợ Văn Hòa vì chuyện của Dương Vũ mà tâm trạng không tốt, Mạnh Trân Trân đi tới trò chuyện với cô vài câu, hỏi chuyện hôm qua đi đánh bóng với Chương Như, lại hẹn lần sau cùng nhau đi làm thẩm mỹ y khoa.
Mạnh Trân Trân nói: “Cái vi kim đó đau thì đau thật, nhưng hiệu quả đúng là không tệ.”
Văn Hòa nhớ mình còn một lần tiêm thủy quang chưa làm, gật đầu: “Đến lúc đó hẹn thử, xem ngày nào rảnh.”
Hai người vừa nói vừa đi lên lầu, đúng lúc Chu Minh Sơ và mấy người khác vừa nói chuyện xong với khách hàng, có lẽ là định dẫn khách ra ngoài ăn, đang gọi người sắp xếp xe.
Văn Hòa nhìn thấy Chu Minh Sơ liền nhớ tới những lời Tinh Tinh nói, bỗng dưng lại cảm thấy mơ hồ về anh, chỉ thấy người này giống hệt một câu đố.
Cô thật sự không hiểu nổi con người này, mang theo đầu óc rối bời quay về chỗ ngồi, cô ngồi ở đó, đưa tay ấn trán ngẩn người.
Một lúc sau điện thoại rung lên, Văn Hòa cầm lên nhìn, do dự một chút, cuối cùng cũng không như tối qua bật im lặng, đứng dậy đi ra hành lang nghe máy: “Tổng giám đốc Chu?”
Chu Minh Sơ hỏi cô: “Cô lại làm sao vậy?”
Không đầu không đuôi, Văn Hòa buồn bực đáp: “Không sao.”
Chu Minh Sơ nhớ tới dáng vẻ uể oải vừa rồi của cô: “Cô chắc chứ?”
Đầu bên kia yên lặng một lúc, Văn Hòa nói: “Tôi chỉ là… hơi buồn ngủ.”
“Buồn ngủ thì đi ngủ, công ty đâu phải không có giờ nghỉ trưa.” Giọng Chu Minh Sơ vẫn như thường. Anh đang tìm đồ trong phòng làm việc, đợi một lúc, nghe trong ống nghe Văn Hòa khẽ “ừ” một tiếng.
Nhẹ đến mức như tiếng mũi.
Cúp điện thoại xong đi ra ngoài, anh cũng thấy Văn Hòa từ bên cầu thang đi ra. Cô liếc anh một cái thật nhanh, rồi cũng nhanh chóng quay đầu đi chỗ khác, không nhìn anh nữa.
