Chương 10: Đàn bà luôn chẳng chịu nổi cám dỗ

*

Trước cửa hãng Tây có lính tuần da đen đứng gác, trên đầu quấn khăn. A Ngọc không biết đó là người Ấn Độ, chỉ nhớ mình từng thấy pho tượng như vậy ở mấy ngôi miếu lớn. Cô hoa cả mắt, lầm lũi bước theo sau lưng Ông chủ Giang đi vào bên trong. Vào đến tòa nhà trần cao ngất ngưởng, chỉ thấy bên trong người da đen, da trắng, da vàng đủ cả, phần lớn đều rây ria xồm xoàm, tròng mắt người đen, người xám, người xanh. Giang Kỳ Nguyên trò chuyện với họ, cô chẳng hiểu nổi lấy một từ.

Một người Trung Quốc bước ra, Giang Kỳ Nguyên từng bảo đây gọi là mãi biện. Gã này tự giới thiệu họ Trịnh, cái tên nghe thật kỳ quặc, gọi là Bảo La. Gã hớn hở bước ra chào hỏi Giang Kỳ Nguyên, ánh mắt chốc chốc lại liếc qua A Ngọc.

Gã chẳng rõ gã người Việt Nam gốc Hoa này dẫn theo một người đàn bà trẻ tuổi đi làm ăn để làm gì, trong đầu xoay chuyển đủ loại suy nghĩ. Nhìn nhan sắc A Ngọc, biết đâu chừng lại là cô gái bao hạng sang. Hoặc giả ở Việt Nam đang rộ lên mốt dẫn theo cô vợ mỹ diễm đi bàn chuyện làm ăn cho có thể diện. Duy chỉ có điều người đàn bà xinh đẹp này lại mặc áo đen quần đen, ăn bận hệt như bắt chước Tự sơ nữ, thật kỳ quái vô cùng.

Giang Kỳ Nguyên trịnh trọng giới thiệu A Ngọc: “Đây là assistant của tôi, phụ trách giúp tôi kiểm tơ.”

Trịnh Bảo La thầm nghĩ “tin anh mới lạ”, ngoài mặt vẫn đắt chí mỉm cười đón họ vào trong.

Căn phòng rộng thênh thang, dưới dãy cửa sổ dài là một chiếc bàn kiểm tơ kéo dài, trên bàn dựng hai tấm bảng đen song song, trước bảng treo đèn chiếu sáng. Ông lớn hãng Tây bước ra, một gã da trắng cao rống, râu tóc bạc phơ, chẳng hiểu sao lúc nào cũng ngửa đầu lên, dùng hai lỗ mũi hất về phía họ.

Trịnh Bảo La dịch lại từng câu từng chữ của đối phương: Hàng không đạt, họ đòi hạ giá.

“Mấy người có thể viết thư lên trụ sở chính ở Hồng Kông để khiếu nại. Có điều trong thời gian khiếu nại, tiền hàng vẫn sẽ bị đóng băng như cũ.”

A Ngọc nghe hiểu một nửa, một nửa lại tịt. Có điều vừa rồi Trịnh Bảo La bảo ông lớn này là người Anh. Hồng Kông giờ là đất của người Anh, ai mà biết họ có chịu bênh mình hay không?

Thấy Giang Kỳ Nguyên giữ im lặng, Trịnh Bảo La cười xòa, dùng cái giọng điệu “người nhà mình không gạt người nhà mình” mà bảo: “Quy củ của hãng Tây xưa nay vẫn thế. Người Trung Quốc mình thế yếu, anh đòi tranh, tranh sao lại họ? Theo tôi thấy, anh cứ chịu ép giá đi cho xong, coi như nhận cái xui, dĩ hòa vi quý…”

A Ngọc đầu óc thẳng tuột, có gì nói nấy, không kìm được chen vào: “Tơ của xưởng chúng tôi, từ tay nghề cho tới chất lượng, tuyệt đối không thể nào có vấn đề được.”

Giang Kỳ Nguyên mỉm cười: “Nghe đâu lô hàng này ký hợp đồng với bên mua người Pháp. Tôi sống ở Pháp mấy năm, cũng quen thuộc bên đó lắm.” Anh bảo, nếu lô tơ này đem sang Pháp kiểm nghiệm ra mọi thứ bình thường, bán đúng giá nguyên bản, vậy thì anh sẽ viết thư sang đó đối chứng xem có phải bên này cố tình đè giá hay không. “Thương hội bên ấy rất coi trọng tín nhiệm đấy.”

Phía hãng Tây thảo luận một hồi rồi đồng ý cho họ kiểm tơ. Mọi người ngoảnh lại nhìn Giang Kỳ Nguyên, anh lại lùi về sau nửa bước, nhường lại chiếc bàn dài cho A Ngọc. “Tôi có dẫn theo một người. Tơ tốt hay xấu, cứ để cô ấy nói.”

Mọi ánh mắt lập tức dồn cả vào A Ngọc. Cô chưa từng cảm thấy bản thân lại có thể quan trọng đến thế này. Bàn tay cô vẫn còn run run, bụng dạ thấp thỏm lo sợ, đành nhắm mắt đưa chân tiến lên.

Thế nhưng vừa chạm tay vào tơ, cô liền khôi phục sự điềm tĩnh.

Trước hết là nhìn bao bì. Nhãn mác bên ngoài đúng là của Vạn Sinh Nguyên, không chệch đi đâu được. Cô cầm bao hàng nâng nâng trên tay, ngón tay mân me sợi dây buộc, “Có kéo không? Tôi muốn mở bao hàng.”

Chẳng ai thèm đoái hoài tới cô. Ở cái chốn này, cô chỉ là một người đàn bà không tên không tuổi.

Giang Kỳ Nguyên hỏi bằng tiếng Anh: “Kéo đâu?” Trịnh Bảo La không chút tự nguyện đưa kéo sang. Anh chỉ tay về phía A Ngọc: “Đưa cho cô ấy.”

Trịnh Bảo La đứng trơ ra không nhúc nhích.

A Ngọc tự tay cầm lấy chiếc kéo cắt đứt bao bì, từ bên trong rút ra một tép tơ, dùng mắt thường soi màu sắc, độ bóng, lại đưa tay nâng thử trọng lượng, nắm lấy thân tép tơ khẽ khàng vân vê. Cô nhíu mày, thì thầm: “Không đúng rồi…”

A Ngọc cởi chiếc gói mang theo bên mình, lấy đống tơ cùng lô đặt lên bàn kiểm tra, xếp sóng đôi với tép tơ bên kia, hạ tấm bảng đen xuống, kéo ngọn đèn lại gần. Cô chỉ vào tép tơ bị đè giá: “Ông lớn nói đúng, lô tơ này sợi không đều, lẫn tơ thô.”

Trịnh Bảo La vội vàng dịch lại lời này cho ông lớn nghe. Ông lớn gật đầu, vẻ mặt tỏ ra ưng ý.

A Ngọc lại bồi thêm một câu: “Thế nhưng đây không phải tơ của xưởng chúng tôi.”

Trịnh Bảo La cười nhạt: “Thì cùng một lô cả chứ đâu.”

A Ngọc nắm lấy hai tép tơ, vân vê tép của mình trước, rồi lại vần tép tơ trả về kia, âm thanh cọ xát phát ra từ hai bên rõ ràng khác biệt hoàn toàn: “Ngoài kỹ thuật khác nhau ra, tôi đoán tép tơ này còn bị xịt nước trong kho để tăng sức nặng.”

Trịnh Bảo La lại cười: “Thời tiết ẩm ướt, hơi nước ngấm vào có gì mà kỳ lạ.”

Giang Kỳ Nguyên cất lời ngắt ngang: “Chúng tôi có thể tìm một bên trung gian. Công ty kiểm tơ thuộc Hiệp hội Liên hợp Mỹ có chi nhánh ở Thượng Hải, có thể định lượng chính xác độ ẩm cùng tạp chất trong tơ.”

Trong lúc anh phát biểu, tay A Ngọc vẫn liên tục cân đo vân vê, lúc này cô mới lên tiếng: “Có lẽ chẳng cần phiền phức tới vậy đâu, ngay bây giờ tôi cũng có thể chứng minh tơ của chúng tôi bị tráo bao rồi.” Cô chỉ vào một kiện hàng mẫu chưa bóc còn lại, rồi từ trong gói đồ lấy ra một phần tơ cùng lô mà mình mang theo. “Dây thừng gai xưởng chúng tôi dùng để buộc bao là kiểu đan chữ thập tám đường, nhưng hàng mẫu ở đây lại dùng kiểu bắt chéo chữ thập.”

Mọi người còn chưa kịp lên tiếng, Trịnh Bảo La lại nhào vào chen ngang: “Này cô, đi thuyền dập dềnh lắc lư, dây buộc tuột ra phải cột lại là chuyện thường như cơm bữa.”

“Nếu là tuột ra cột lại, sao lại thay luôn cả dây thừng gai thế này? Xưởng Vạn Sinh Nguyên dùng loại dây gai dẹp, còn ở đây lại là dây gai bản rộng.”

Trịnh Bảo La cứng họng không đáp trả nổi, trong lòng rủa thầm người đàn bà này lắm chuyện.

Ông lớn râu bạc trong lòng đã đoán ra được dăm ba phần, không còn tin tưởng Trịnh Bảo La nữa, liền quay sang hỏi người Trung Quốc khác đứng bên cạnh. Người nọ dịch cho ông ta nghe một hồi, ông ta liền gọi gã thợ kiểm tơ của mình tới. Gã thợ kiểm tơ soi xét lại một lượt rồi ngẩng đầu lên thốt vài câu tiếng Tây với ông lớn.

Ông lớn nhìn A Ngọc, cất tiếng hỏi: “Cô tên là gì?”

Người phiên dịch dịch lại cho cô nghe, cô hơi bất ngờ, nhưng thái độ vẫn vô cùng quang minh chính đại: “Tôi tên Lý Tú Ngọc, là nữ công nhân xưởng Ông chủ Giang.”

Ông lớn lại buông thêm một câu, người phiên dịch bảo: “Ông lớn bảo, ông ấy làm nghề buôn tơ ba mươi năm nay, hôm nay mới là lần đầu tiên bị một cô nữ công nhân dạy cho cách kiểm tơ.”

Giang Kỳ Nguyên đang cân nhắc xem câu này là khen hay chê, A Ngọc lại chẳng phân biệt nổi tốt xấu, thẳng thắn đáp: “Cái nghề này vốn là vậy mà, học nữa học mãi không bao giờ hết.” Ông lớn râu bạc sau khi nghe dịch xong liền bật cười thành tiếng.

Bước ra khỏi cửa hãng Tây, A Ngọc cất tiếng hỏi: “Mọi chuyện có rắc rối lắm không anh?”

“Vốn dĩ rất rắc rối, nhưng may mà có cô ở đây, giờ thì đơn giản hơn nhiều rồi.” Anh vừa nói vừa xua tay gọi xe kéo, “Sau đây tôi sẽ mời Công ty kiểm tơ của Mỹ tới kiểm nghiệm hàng hóa, làm bên thứ ba.”

“Người Tây không bênh người Tây sao?”

“Trên đời này có vô số quốc gia, người Tây cũng có người Tây này người Tây khác, giữa họ cũng có phe phái lợi ích riêng. Tất nhiên, nếu có một ngày người Trung Quốc có viện kiểm định riêng thì không còn gì tốt bằng.”

A Ngọc chỉ thấy mở rộng tầm mắt. Chiếc xe kéo trần trườn tới, Giang Kỳ Nguyên nhường A Ngọc lên xe trước. Lại thêm một chiếc nữa tới, Giang Kỳ Nguyên leo lên xe, hô địa chỉ. Chiếc xe kéo lao nhanh lên dải Trường Đê.

Lúc tới đây bụng dạ ngập tràn lo âu, người căng như dây đàn, giờ đây trút bỏ được gánh nặng, mắt, tai, mũi cùng mọi giác quan trên người cô dường như bừng tỉnh hoàn toàn. Con đường nhựa đầu tiên trong đời đập thẳng vào mắt cô. So với con đường đá xanh hẹp rải rác chốn huyện thành, con đường nhựa nơi đây rộng thênh thang tới mức có thể cho bốn chiếc xe chạy song song. Một bên đường là dãy nhà vòm kỳ lầu, căn này nối liền căn kia, người ta đi lại bên dưới chẳng e ngại nắng mưa dầm dề. Dưới chân nhà vòm tràn ngập cửa tiệm. Chiếc đồng hồ báo thức ở nhà Minh Châu vốn khiến cô thấy lạ lẫm thích thú vô cùng, thế nhưng ở đây lại chỉ là món đồ bày trên tủ kính cửa hàng bách hóa, đủ loại kiểu dáng to nhỏ, bên dưới còn dán thêm tấm nhãn giá tiền nho nhỏ. Khách sạn trà lâu mọc lên san sát, quán này kề quán kia, cô ngước mắt nhìn lên tầng hai, vừa hay bắt gặp có người đang ngó đầu nhìn xuống.

Chốn phồn hoa đô hội là thế, nhưng vẫn không thiếu những hình bóng lao động nghèo hèn dưới đáy xã hội. Có người thổi kèn loa, nhịp nhàng rao lên: “Kẹo gà gô…” dọc theo con phố. Mấy đứa nít ranh đi bán báo, cách đó không xa là tên ăn mày áo quần rách rưới nằm bò ra đất, muỗi chích tưng bừng cũng chẳng buồn nhúc nhích, không biết là sống hay đã chết.

Bên kia đường là dòng Châu Giang.

Trời đã ngả về chiều, mặt sông phủ một màu vàng óng ánh. Trên sóng nước lấp xấp bao nhiêu là chiếc xuồng nhỏ có người sinh sống. Ngày trước nghe Minh Châu nhắc tới, đó là dân Đản Gia sống nương nhờ sông nước. Người phụ nữ Đản Gia đứng ở đuôi xuồng, sau lưng đèo con nhỏ, hai tay vẫn miệt mài chèo khua giọt nước. Trên bờ phu bốc vác quẩy từng kiện hàng từ dưới thuyền chuyển lên đất liền. Tiếng còi tàu trên sông rúc lên dài thượt.

Đoạn Trường Đê đông đúc người qua lại, phu xe kéo không thể chạy nhanh, chiếc xe của cô với Giang Kỳ Nguyên gần như chạy song song. Anh ngoái đầu nhìn cô: “Tỉnh thành có thú vị không?”

“Thú vị lắm ạ.” Mặt cô tràn ngập sự tò mò cùng say đắm.

Trong lòng Giang Kỳ Nguyên dâng lên một thứ cảm xúc kỳ quặc. Lôi kéo một người đàn bà nhà lành chốn quê mùa vào chốn phồn hoa đô hội, giương mắt nhìn cô ta tha hóa ngã gục, dĩ nhiên là một trò tiêu khiển đầy hứng thú. Nhưng ở chiều ngược lại, anh lại dấy lên chút thất vọng ngầm ẩn.

Đàn bà bao giờ cũng chẳng chịu nổi cám dỗ.

Anh vốn dĩ cứ ngỡ, Lý Tú Ngọc sẽ là một ngoại lệ.

Anh dẫn cô tới nhà hàng Đại Tam Nguyên. Phố xá Trường Đê nhộn nhịp, bước chân qua ngưỡng cửa cũng náo nhiệt không kém, bồi bàn xách chiếc ấm đồng to bưng biền đi lại giữa các bàn ăn. Có không ít gã đàn ông vẫn còn nuôi chỏm tóc đuôi sam thời Thanh, mặc áo dài vạt, tay xách lồng chim, trên bàn bày vài ba đĩa điểm tâm. Giang Kỳ Nguyên dẫn cô lên tầng hai.

Vừa bước chân lên cầu thang, không gian đã yên ắng đi nhiều, lên đến tầng hai thì bàn ghế thưa thớt hẳn. Ngay bên cửa sổ vẫn còn một bàn trống nhìn ra Châu Giang. Hai người ngồi xuống đó. Bồi bàn nhanh chóng bước tới trò chuyện với Giang Kỳ Nguyên. A Ngọc quay sang ngắm nhìn dòng sông bao la, lúc giật mình hồi thần thì bồi bàn đã rảo bước đi mất, còn Giang Kỳ Nguyên đang cúi đầu rót trà cho cô.

A Ngọc cuống quít đứng dậy, xua tay liên hồi: “Ông chủ Giang, để tôi làm cho.”

Giang Kỳ Nguyên bảo: “Cô ngồi xuống đi, cứ từ từ mà ăn, thong thả mà uống.”

Cô đành phải vâng lời.

Trà ngon tuyệt hảo, nhưng bảo ngon ở chỗ nào cô cũng chẳng thốt nên lời. Điểm tâm cũng được dọn lên, nào là há cảo, xíu mại hấp, xíu mại nướng, bánh củ năng, bánh củ cải, bánh rán đường, bánh cuốn. Lúc này cô mới chợt nhận ra bụng dạ đã cồn cào, liền xơi hết đĩa này tới đĩa khác.

Giang Kỳ Nguyên thấy cô ăn ngon miệng, liền giơ tay gọi bồi bàn mang thêm hai đĩa nữa. A Ngọc trong miệng còn đang nhai nhồm nhàm miếng bánh củ cải, cuống quít xua tay: “Đủ rồi Ông chủ Giang, đủ rồi ạ.”

Giang Kỳ Nguyên nghĩ thầm, dẫu cho có là một người đàn bà bắt đầu sa chân vào chốn phồn hoa đô hội, trên người cô vẫn giữ nguyên cái vẻ trẻ con ngô nghê.

Anh bo cho bồi bàn ít tiền, nhờ gã ra ngoài mua một bát cháo xuồng của dân Đản Gia. Bồi bàn xởi xởi dạ vâng, nhét xấp tiền vào vạt áo. Chờ gã rảo bước đi khỏi, Giang Kỳ Nguyên mới quay sang: “Ăn đi, hôm nay cô lập công lớn rồi đấy.”

A Ngọc chưa bao giờ nhận do được sự coi trọng đến thế từ một gã đàn ông, đến cả A Quý cũng chưa từng. A Quý mỗi lần gặp cô đều hăm hở muốn kéo cô vào hẻm vắng để âu ếm, nhưng lần nào cũng bị cô gạt ra, thành thử A Quý lại càng cuống quýt muốn cưới cô về làm vợ để sớm ngày động phòng. Cô gỗ đá như vậy, thế mà chẳng hiểu sao lại biến thành con hồ ly tinh trong miệng nhà họ Lạc.

Bồi bàn bưng bát cháo xuồng tới, trên mặt sông vút lên tiếng hát hò sông nước của dân Đản Gia:

“Bóng hằng nga, soi sân nhà.

Bé ngoan chiều nghe lời ngủ ngoan trên giường.

Sớm mai mẹ đi bắt tôm cá.

Ngoại ngồi đơm lưới tới hừng đông…”

A Ngọc ngắm nhìn dòng Châu Giang đò thuyền qua lại tấp nập, không khỏi lộ ra vài phần mê đắm, nhất thời ngơ ngác lặng người. Giang Kỳ Nguyên đăm đăm ngắm nhìn gương mặt nghiêng của A Ngọc.

Anh nhớ lại lần đầu tiên nhìn thấy cô, giữa đám đông nhốn nháo đòi dìm lồng heo có lộ ra một gương mặt nghiêng cong cong như vầng trăng khuyết, mang theo vẻ không đành lòng, bàng hoàng cùng bi ai. Anh nhìn thần thái của cô lúc này, quyết định không nói ra sự thật rằng cuộc đời người phụ nữ Đản Gia cũng bi thảm chẳng kém. Trên mặt sông ngập tràn những chiếc thuyền hồng, thuyền hoa chuyên dành cho đàn ông vui chơi hưởng lạc, trong số đó thậm chí còn có cả những cô gái chưa tới tuổi trưởng thành.

Anh cất tiếng hỏi A Ngọc: “Có phải cô không muốn quay về Nam Hải nữa?”

A Ngọc lộ vẻ hoang mang: “Sao lại vậy chứ? Tỉnh thành là tỉnh thành, Nam Hải là Nam Hải. Bạn bè của tôi, công việc của tôi vẫn nằm ở đó mà. Giờ đây Ông chủ Giang đưa tôi đi mở mang tầm mắt, sau này nếu bản thân tôi muốn lên đây xem náo nhiệt thì cũng có thể tự mình đi thuyền ra.”

“Rành rọt tới vậy sao?” Anh mỉm cười, “Nhưng cô ở Nam Hải, cả đời cũng chỉ dừng lại ở đó mà thôi.”

A Ngọc cúi gập đầu: “Tôi xuất thân nghèo khổ, lại là phận đàn bà, giờ đã tự sơ rồi, vốn dĩ một đời cũng chỉ đến thế mà thôi.” Cô biết đủ, phụ nữ ngày nay so với mấy chục năm trước đã tốt hơn nhiều lắm rồi.

Giang Kỳ Nguyên nghĩ thầm, cô đúng thật là đầu gỗ.

Gió sông từ ngoài cửa sổ lùa vào, thổi tung mái tóc cô. Người đẹp khúc gỗ ấy giơ tay vén lọn tóc vướng víu ra sau vành tai, để lộ chiếc tai nhỏ nhắn trắng nõn. Một bên tai khẽ đón gió làm anh chợt nhớ tới món sủi cảo thường ăn dịp Tết, chắc chắn là ngọt ngào và mọng nước.

Thế nhưng cô lại là Tự sơ nữ, dù có ngọt ngào mọng nước tới đâu cũng chẳng thể trở thành món ngon trên đĩa của anh. Trừ phi cô chấp nhận sa ngã. Nhưng xem chừng hiện tại…

Giang Kỳ Nguyên quay đầu nhìn ra dòng Châu Giang. Trên mặt sông mây đen ùn ùn kéo tới, trời sắp đổ mưa rồi.

Giọng anh đè thấp xuống, như thể tự nói với chính mình: “Chẳng lẽ cô cam lòng sao?”

Chú thích:

Mãi biện: (hay xuất phát từ tiếng Triều Châu / tiếng Hán là 买办) trong lịch sử là danh từ chỉ người đứng ra lo việc mua hàng, hoặc cụ thể hơn là người đại diện, trung gian giao dịch thương mại giữa các hãng buôn/công ty nước ngoài với người bản xứ (hoặc thị trường nội địa)