Chương 5: A Ngọc biến mất

*

Sau khi A Ngọc làm tổ trưởng, ngày nào cô cũng đến xưởng sớm nhất, về muộn nhất, về đến nhà mệt lả đặt lưng là ngủ ngay. Thỉnh thoảng Minh Châu lại không kìm được mà nói mát: “Ông chủ Giang là người từ xa tới, ngày nào thích đi thì đi, nên chẳng sợ đắc tội với ai. Chị vì anh ta mà đắc tội với người ta, sau này sao mà sống nổi ở Nam Hải?”

A Ngọc ngạc nhiên: “Tôi chăm chỉ làm việc, kiếm được nhiều tiền công hơn là vì chính tôi. Nhìn khắp Nam Hải này, có người nữ công nhân xưởng tơ nào lại không dựa vào đôi tay mình, kiếm nhiều tiền hơn đàn ông, khiến lũ đàn ông không thốt nên lời? Tôi việc gì phải bận tâm người khác nói gì?”

Cô vốn không phải kẻ đanh đá xéo sắc, nhưng câu này lại khiến Minh Châu chẳng thể cãi lại. Minh Châu sinh ra trong nhà giàu có, phần thư họa đồ cổ mà cha cô để lại cũng đủ cho cô sống tằn tiện cả đời. Vào xưởng tơ làm thuê chỉ là để tự lực gánh sinh, lẽ dĩ nhiên không thể thấu hiểu được cảm giác tự hào khi dựa vào đôi tay nuôi sống bản thân và gia đình như A Ngọc, A Thái. Thế là cô ngậm miệng lại. Về sau A Ngọc nhờ cô dạy mình viết chữ, cô cũng tận tình chỉ dạy.

Cô hỏi A Ngọc: “Sao đột nhiên lại muốn học viết chữ?”

“Ông chủ Giang bảo, nữ công nhân không làm cả đời được. Nhưng nếu biết chữ thì coi như có một tay nghề, công việc có thể làm cũng nhiều hơn.”

Minh Châu không lên tiếng.

Trước đây A Ngọc luôn nghe lời cô, nói gì cũng là “Minh Châu bảo”, từ bao giờ lại biến thành “Ông chủ Giang bảo”? Như có sâu bọ cắn vào người, trong lòng cùng tay chân đều ngứa ngáy đau đớn rần rần. Mắt cũng vừa đau vừa ngứa khi nhìn A Ngọc với Giang Kỳ Nguyên ngày càng gần gũi.

Anh đi kiểm tra xưởng, cô đi cùng kiểm tơ. Anh muốn thử nghiệm phương pháp ươm tơ mới, cô ngồi xổm bên máy cùng thử. Hai người ngồi xổm bên máy, như hai con thú nương tựa vào nhau. Trong phân xưởng có hơi nước, nhiệt độ cao khiến cô trông như phủ một lớp mồ hôi mỏng, làm anh có chút liên tưởng tình dục. Nhưng đối với những nữ công nhân này, anh tự có tính toán riêng: vừa cần dùng tới đối phương, lại vừa không muốn đối phương có ý đồ gì với mình làm hỏng việc lớn.

Có liên tưởng đâu chỉ mình anh? Trong phân xưởng cũng từng có vài lời đồn đại ra vào, nhưng xích lại gần nghe thì thấy hai người toàn nói chuyện kén với tơ, chẳng có nửa phần tình ý. Tơ của xưởng bán chạy, thu nhập nữ công nhân tăng cao, chẳng còn ai nói ra nói vào nữa.

Minh Châu lạnh lùng đứng nhìn, không còn khuyên thêm lời nào nữa.

Cô nhanh chóng hối hận vì hành động này của mình.

Tối hôm đó đã quá giờ cơm từ lâu mà A Ngọc vẫn chưa về nhà. Minh Châu thấy lạ, khoác chiếc áo ngoài, xách đèn lồng dò dẫm theo con đường bờ ao tìm tới xưởng. Cổng xưởng đã đóng từ lâu, cô đập cửa hồi lâu, người coi cổng mới khoác áo bước ra, mắt nhắm mắt mở.

“Bác Hoàng, A Ngọc về nhà chưa?”

“Cô quản công ấy hả? Cô ấy tan làm là đi luôn rồi.”

“Chỉ có một mình chị ấy thôi sao?” Minh Châu nghi ngờ Giang Kỳ Nguyên đã đưa chị ấy đi đâu, “Thế Ông chủ Giang đâu?”

“Họ đi riêng mà.”

Minh Châu cảm ơn bác Hoàng, quay người đi về hướng trong làng, đến đập cửa nhà A Thái, rồi đi tìm Lạp Cô, ai cũng bảo không thấy A Ngọc. Trời tối mịt, chiếc đèn lồng trên tay cô chỉ tỏa ra chút ánh sáng leo lét, chiếu lên mặt A Thái. Cô bé đột nhiên nghĩ ra: “Liệu có khi nào ở chỗ ông chủ Giang, đang bàn chuyện với anh ấy không?”

Minh Châu nghĩ thầm, đêm hôm khuya khoắt ở nhà người đàn ông sống một mình thì bàn bạc cái gì? Mình thấy A Ngọc điên thật rồi. Nhưng ngay lúc này, cô thà rằng A Ngọc điên thật, như thế ít ra cô còn tìm thấy chị ấy ở nhà Giang Kỳ Nguyên. Dù cho đó là một A Ngọc tóc tai xõa xượi, áo quần xộc xệch đi chăng nữa. Cô từng bước đi trở về, trong lòng ôm ấp nỗi tưởng tượng bất an đó, cuối cùng dừng lại trước ngôi nhà gạch đỏ bên kia ao, giơ tay đập cửa.

Phải một lúc lâu sau Giang Kỳ Nguyên mới ra mở cửa. Anh mặc một chiếc áo dài chưa gài cúc, đi đôi dép lê bằng da, nếu Minh Châu từng đến Đông Dương thuộc Pháp thì sẽ biết chiếc áo dài này mang phong cách Paris, nhưng hoa văn lại là mây lành mang màu sắc phương Đông, các tiệm may người Pháp ở Sài Gòn rất hay may kiểu này.

Nhưng cô chẳng biết gì cả, cô chỉ biết A Ngọc đã biến mất.

Giang Kỳ Nguyên hỏi, xảy ra từ bao giờ? Rồi lại bảo, chờ tôi một chút. Anh nhanh chóng trở vào nhà, lúc trở ra đã thay xong quần áo, trên tay xách một chiếc đèn bão.

“Đi thôi. Tôi đi tìm cùng cô.”

Anh vốn chẳng phải kẻ tốt lành gì. Người Hoa ở Việt Nam chia bè kéo cánh, thế lực chằng chịt, vừa phải kiếm sống dưới mí mắt đám người Pháp, vừa phải phòng bị người bản địa bài Hoa. Môi trường lớn lên như thế thì lấy đâu ra người tốt?

Chỉ là con rồng qua sông như anh, dù hung tợn đến mấy cũng không chọi lại rắn bản địa, thứ cần nhất chính là mối quan hệ địa phương. Ban đầu anh chấm Chú Phát và Anh Tư, sau lại thấy A Ngọc chăm chỉ ngây thơ, kỹ thuật ươm tơ giỏi, sau này tự khắc còn nhiều lúc cần dùng tới. Một nhân tài như thế bị mất tích, anh bắt buộc phải đi tìm.

Giang Kỳ Nguyên cùng Minh Châu đi dọc theo con đường bờ ao về phía trước, ánh sáng của đèn bão và đèn lồng cũng chỉ đủ soi rõ một mảng nhỏ dưới chân. Trong lòng Minh Châu không còn phương hướng, bèn đề nghị ra khu chợ huyện xem sao. Hai người một trước một sau bước đi, Minh Châu đi trước, Giang Kỳ Nguyên đi sau, anh chợt cất tiếng hỏi: “Trong nhà cô ấy còn những ai?”

“Chẳng còn ai cả. Ba mẹ chị ấy chết sớm, cũng không có anh chị em.”

“Thế còn họ hàng?”

“Cái số mệnh như chị ấy, họ hàng né còn chẳng kịp.”

Hai người đi đến bên bờ kênh. Đèn bão ở phía trước chiếu sáng một vùng nước nhỏ, Giang Kỳ Nguyên bước nhanh nhưng giọng nói lại thong thả: “Tôi từng nghe vài chuyện. Bảo cô ấy từng đính hôn.”

Minh Châu quay đầu lại nhìn anh một cái. Trong đêm tối không nhìn rõ nét mặt người này, nhưng sự cân nhắc từng lời từng chữ trong câu nói thì cô cảm nhận được. Đính hôn thì đã sao chứ? Mấy chuyện anh nghe được chắc chắn còn khó nghe hơn thế này nhiều.

Nhưng giống như Minh Châu không cho rằng mình là kẻ không may mắn, cô cũng chẳng thấy A Ngọc xui xẻo, thế là thẳng thắn bảo: “Đính hôn rồi. Chưa qua cửa thì gã đó đã chết vì tai nạn. Chị ấy đến cả chịu tang cũng chịu thay gã, vậy mà nhà đó đến cả cửa cũng không cho chị ấy vào.”

Giang Kỳ Nguyên nhớ lại lần đầu gặp ở xưởng, bên vành tóc mai cô cài một bông hoa trắng nho nhỏ.

“Nhà nào?”

“Làng Giản, họ Lạc. Anh hỏi chuyện này làm gì?”

Con đò từ trên dòng nước đen ngòm chậm rãi lướt tới. Giang Kỳ Nguyên xách đèn bão, bước lên tấm ván trước một bước, gió đêm tạt vào mặt làm vạt áo vạt vồng lên. Minh Châu đi sau anh bước lên đò, nhìn bóng lưng xách đèn phía trước, chỉ nghe anh nói: “Một người biến mất thì đến nhà cô ấy mà tìm. Nếu không có nhà thì phải đến nơi gần với nhà cô ấy nhất.”

Minh Châu hiểu ra. Cô không thích người đàn ông này, sự xuất hiện của anh đã thay đổi tất cả, nhưng lúc này cô cất cao giọng nói với ông lái đò: sang làng Giản.

Đêm ở chốn thôn quê tối tăm và tĩnh mịch, ngõ xóm nơi nhà họ Lạc ở rất hẹp, chó sủa từ đầu làng đến cuối làng, tiếng nọ nối tiếng kia, truyền tiếng bước chân của hai người đi khắp làng. Từ xa đã thấy trong nhà vẫn còn hắt ra ánh sáng, ẩn hiện tiếng người truyền ra, cho cảm giác như đang bàn chuyện làm điều mờ ám thấu đêm.

Minh Châu đùng đùng sát khí lao về phía trước, một tay xách đèn lồng, tay kia giơ lên định gõ cửa thì Giang Kỳ Nguyên phía sau hô dừng lại, im lặng nghe bên trong nói gì.

Nó chẳng phải ngày ngày đi lại gần gũi với gã ông chủ Nam Dương đó sao? Nó chẳng phải thích đàn ông Nam Dương sao? Được thôi, chúng ta thành toàn cho nó, bán nó cho mấy gã khách ngoại quốc!

Bên Quảng Châu đã bàn xong xuôi rồi, khách Nam Dương nhiều, kiều bào giàu có tụ tập thành đàn, sẵn sàng trả giá cao.

Cơn giận xông lên đầu Minh Châu, cô vung tay gõ cửa dồn dập rầm rầm rầm, lớn tiếng gọi: “Mở cửa! Mở cửa ra!” Tiếng nói bên trong đột ngột ngưng bặt, một lúc lâu sau cánh cửa hé ra một khe nhỏ, một gã đàn ông mặt dài thò đầu ra, nheo mắt đánh giá: “Tìm ai?”

Minh Châu đẩy mạnh gã ra, nhấc chân bước thẳng vào trong, Giang Kỳ Nguyên đi theo vào phòng khách.

Trong nhà toàn là người, ngồi vây thành vòng tròn, ngơ ngác nhìn người đàn ông và người phụ nữ trước mắt. A Ngọc bị người ta trói gập lại, dây thừng quấn từ cổ tay đến cùi trỏ rồi qua ngực lưng, cột chặt vào ghế, trong miệng ngậm một giẻ vải. Cô nhìn thấy hai người xông vào, mắt chợt mở to.

Minh Châu rảo bước tiến lại, rút giẻ vải trong miệng cô ra.

“A Ngọc, chị không sao chứ?” A Ngọc lắc đầu, tóc mai đẫm mồ hôi.

“Đi, theo tôi về nhà.” Minh Châu run giọng, cúi đầu gỡ dây thừng. Nút thừng vừa to vừa cứng, cô dùng sức thế nào cũng không gỡ ra được. Giang Kỳ Nguyên định tiến tới giúp thì mẹ A Quý đột nhiên lao ra chắn trước mặt anh: “Mấy người đừng mong đưa nó đi. Nó đã gả cho A Quý nhà tôi thì đây chính là nhà của nó!”

Giang Kỳ Nguyên bảo: “Các người làm thế này gọi là bắt cóc đấy.”

“Bắt cóc? Bớt lấy cái trò của đám Tây ra dọa chúng tôi đi.” Lão già ở góc nhà cười nhạt, “Nó là người nhà chúng tôi, đã đính hôn đàng hoàng.”

“Tôi là chủ của cô ấy, tôi phải đưa cô ấy đi. Có chuyện gì ngày mai đến Vạn Sinh Nguyên nói chuyện với tôi.” Nói rồi anh lách qua mẹ A Quý, cúi xuống trước mặt A Ngọc gỡ trói cho cô.

“Nói cái con khỉ!” Mẹ A Quý đột nhiên nổi giận đùng đùng, “Người là của nhà tôi, cậu đòi dắt đi? Cậu tính là cái gì của nó? Ông chủ hả? Hừ, có ông chủ nào nửa đêm nửa xóm đến nhà người ta cướp phụ nữ không?”

Câu này quá độc địa, lại mang theo vài phần giễu cợt bẩn thỉu, người trong nhà cất tiếng cười trộm. Minh Châu nổi cơn giận dữ, ngoảnh đầu lườm từng người một.

Giang Kỳ Nguyên chẳng hề nổi giận, anh gỡ xong nút thừng, thấy Minh Châu đã đỡ vững A Ngọc bèn quay người thản nhiên bảo: “Mấy người chẳng qua là muốn tiền thôi, ra giá đi.”

Phòng khách chợt im lặng. Mẹ A Quý và ông chú họ nhìn nhau một cái, ông chú ra vẻ làm bộ làm tịch bảo: “Được thôi, nếu cậu có thành ý như thế thì tôi bán nó cho cậu…”

“Cô ấy là người, không phải hàng hóa.”

Ông chú cười bẩn thỉu, nhìn Giang Kỳ Nguyên từ trên xuống dưới, ánh mắt rõ ràng như muốn nói: Đàn ông bỏ tiền mua một người đàn bà thì còn chẳng phải là chuyện đó sao? Mặc kệ anh ta nói thế nào. Ông chú bảo: “Một nghìn đồng bạc, không bớt một xu.” Lão sợ Giang Kỳ Nguyên mặc cả liền nói tiếp ngay: “Tôi đã dò hỏi rồi, một tháng nó kiếm được hai mươi đồng, làm lâu dài thì xa hơn cái giá này nhiều. Với lại nó vẫn còn là gái trinh, đủ cho cậu từ từ hưởng thụ…”

Minh Châu mắng không kịp vuốt mặt: “Lão già chết dẫm, lúc ông ăn phân mình nghẹn chết làm sao không chết luôn đi?”

“Được.” Giang Kỳ Nguyên không bận tâm đến sự lăng mạ trong lời lão, bình tĩnh bảo, “Tối nay tôi đưa người đi trước, ngày mai các người đến Vạn Sinh Nguyên lấy tiền.”

“Khoan đã.” Minh Châu chậm rãi đứng dậy, khôi phục lại sự tỉnh táo, gương mặt cũng lạnh lùng đến cùng cực, cô đứng chắn giữa A Ngọc và người nhà họ Lạc. “Số tiền này để tôi trả. Bằng không hôm nay chị ấy bị nhà họ Lạc bán đi, ngày mai lại do ông chủ chuộc về, quanh đi quẩn lại vẫn chẳng có tự do.” Cô ôm lòng cảnh giác với Giang Kỳ Nguyên, chỉ e anh bỏ số tiền này ra thì sau này sẽ có cớ bắt A Ngọc làm thuê cho anh cả đời.

Căn nhà này hỗn loạn lung tung, mỗi người một ý, đột nhiên nháo nhào lên. Cho đến khi A Ngọc bất ngờ lên tiếng: “Mấy người không bán tôi được đâu. Tôi đã làm lễ tự sơ trước mặt Quan Âm rồi.”

Lời này vừa thốt ra, cả căn nhà im phăng phắc. Ngoại trừ Giang Kỳ Nguyên, những người khác đều hiểu rõ câu nói này có ý nghĩa gì. Người nhà họ Lạc mặt trắng bệch: “Mày nói nhảm cái gì đó? Tự sơ cái gì? Chuyện từ bao giờ? Sao chúng tao không biết?”

“Tôi không nói nhảm, là do mấy người nhét giẻ vào miệng tôi nên tôi không có cơ hội nói thôi.” Giọng A Ngọc ôn hòa, “A Quý chưa kịp rước tôi qua cửa đã đi rồi, tôi vốn định dùng thân phận người nhà họ Lạc sống hết nửa đời còn lại, nhưng mấy người lại không cho tôi bước qua cửa. Một người đàn bà như tôi đi làm bên ngoài không tiện nên mới nảy ra ý định tự sơ. Người Nam Hải ai mà chẳng biết, phụ nữ tự sơ cũng như con gái gả đi, như nước hất đi rồi, không bao giờ lấy chồng nữa.”

Giang Kỳ Nguyên lúc này mới nghe hiểu, cũng đọc được vẻ mặt trắng bệch của cả căn nhà này.

Mẹ A Quý há hốc miệng nhưng không thốt ra lời. Ông chú ngồi bệt lại vào ghế, người như xì hơi thu nhỏ lại một chút nhưng vẫn không đành lòng: “Mày chưa búi tóc lên, cũng chưa mặc áo đen, ai biết là thật hay giả.”

“Bởi vì tôi chưa kịp chính thức làm cỗ tiệc. Chờ làm tiệc xong tôi sẽ búi tóc lên, mặc áo đen vào.” Giọng A Ngọc dịu dàng, “Đến hôm làm tiệc tôi cũng mời mấy người qua uống rượu.”

Người nhà họ Lạc nghẹn lời. Cho dù A Ngọc có mời thì họ cũng chẳng dám đi. Hôm A Quý chết đuối dưới sông, có người đồn là do oan hồn của người tự sơ nữ bị nhúng lồng heo hôm nọ không chịu siêu thoát, căm hờn đàn ông tận xương tủy nên mới bắt người thế mạng. Dù ở địa phương Nam Hải người tự sơ nữ rất nhiều, nhưng từ đó về sau người nhà họ Lạc đối với thành phần này lúc nào cũng kiêng dè khiêu khích sợ hãi trong lòng.

A Ngọc là người thật thà an phận, không hề nghĩ đến việc lợi dụng tâm lý này của họ, lúc này thấy họ giữ im lặng cũng chỉ bảo với Minh Châu: Chúng mình đi thôi. Ba người bước ra ngoài, cả căn nhà họ Lạc đứng có, ngồi có, giương mắt ra nhìn mà chẳng ai dám tiến lên lấy một bước.

Ra khỏi làng, tới bờ kênh thì chỉ còn vài chiếc xuồng nhỏ neo đậu, người lái đò đã đi ngủ từ lâu. Giang Kỳ Nguyên gọi thức một người dậy. A Ngọc và Minh Châu im lặng đứng một bên, Minh Châu hỏi: “Gạt được một lúc chứ đâu gạt được cả đời. Họ mà biết chị chưa làm lễ tự sơ thì nhất định sẽ quay lại…”

“Tôi quyết định rồi, về nhà sẽ làm lễ tự sơ.”

Minh Châu giật bắn người: “Chị điên rồi!”

Giang Kỳ Nguyên ở phía bên kia vẫy tay bảo hai người lên đò, bản thân anh giơ cao đèn bão soi đường phía trước cho họ. Cái gọi là đường phía trước ấy, trong mắt hai người phụ nữ chỉ là một dòng kênh mênh mông bạt ngàn, đi hay ở đều chẳng được tự do. A Ngọc lên đò trước, Minh Châu đi sau lưng cô, hỏi dồn dập không dứt: “Sao chị có thể làm lễ tự sơ thật được chứ? Đây là quyết định cả đời đấy. Chị mà tự sơ rồi sau này không được lấy chồng nữa đâu, ngộ nhỡ nuốt lời thì hậu quả nghiêm trọng lắm đấy.”

Giang Kỳ Nguyên ngồi ở đầu đò, đèn bão đặt trên đầu gối, soi sáng một vùng nước nhỏ trước mặt anh. Anh tự biết thân phận không tiện nên giữ một khoảng cách với hai người họ, không quay đầu lại, gió thổi lời của họ bay tới.

Anh nghe A Ngọc bảo: “Nữ công nhân xưởng tơ qua hai mươi lăm tuổi phần lớn đều làm lễ tự sơ cả, cũng chẳng phải chuyện hiếm hoi gì. Tôi không định lấy chồng, từ lâu đã tính chuyện tự sơ rồi, bây giờ cũng tới lúc rồi…”

Giọng Minh Châu kích động: “Hai mươi lăm tuổi chứ có phải tám mươi lăm tuổi đâu! Chị còn nhiều thời gian sau này, còn nhiều tương lai phía trước mà.”

A Ngọc mỉm cười: “Cô em ngốc ơi, tương lai của tôi đâu nhất thiết phải cần đàn ông…”

“Chị nói đúng, nhưng nhỡ đâu thì sao? Nhỡ đâu chị có người mình thích…”

“A Quý chết rồi, tôi sẽ không còn thích ai nữa đâu.” A Ngọc là người chậm chạp và ngây ngô. A Quý là người đàn ông đầu tiên tôn trọng cô, nhiệt thành theo đuổi cô. Đây chắc có lẽ là tình yêu rồi nhỉ? “Anh ấy là người đàn ông duy nhất không chê bai tôi. Người trong họ bảo tôi khắc cha khắc mẹ, chỉ có anh ấy nói anh ấy không sợ. Đây chắc là thích rồi. Anh ấy chết rồi, chút thích đó trong lòng tôi cũng chết theo anh ấy luôn rồi.”

Minh Châu biết chữ nhưng cũng chưa từng đọc qua loại sách tân tiến nào, chỉ dựa vào linh cảm mờ mờ mà nghĩ rằng loại lời thề cả đời này tuyệt đối không thể đâm đầu vào. Lời nói một thời làm sao có thể đánh cược cả một đời? Cô xưa nay vốn dĩ khéo ăn khéo nói, nhưng khoảnh khắc này lại cuống lên, người một khi đã cuống thì chẳng thốt ra nổi lý lẽ lớn lao gì, chỉ uất hận bảo: “Chị đâu có nợ nần gì A Quý, đây là đòi đi trả nợ đấy à? Với lại, chị đâu phải chưa từng thấy tự sơ nữ bị người ta làm cho chửa ra đấy rồi bị ném xuống sông nhúng lồng heo… Đáng sợ biết mấy!”

“Cái nghèo lẽ nào lại không đáng sợ sao? Qua hai mươi lăm tuổi mà chưa lấy chồng thì rất khó tiếp tục làm việc trong xưởng, người ta sẽ dị nghị. Tôi không thể mất công việc này, chỉ có nước tự sơ.”

Thấy không cãi lại được A Ngọc, cô đành kéo cả Giang Kỳ Nguyên vào cuộc, cất giọng gọi về phía đầu đò: “Ông chủ Giang, anh đi học trường Tây về, anh nói một câu xem nào.”

Giang Kỳ Nguyên mượn cớ bắt chuyện với người lái đò, giả vờ như không nghe thấy.

Ở Sài Gòn anh bị xem là người Trung Quốc, ở Paris anh bị coi là người Việt Nam, tới đây lại trở thành gã khách ngoại quốc. Khách ngoại quốc làm sao giống như anh, hiểu nhiều đại lý lẽ của người Trung Quốc đến thế. Người Trung Quốc đã dạy rồi, chuyện bao đồng chớ xía vào.

Cô là công nhân, anh là ông chủ, sòng phẳng tiền bạc hàng hóa, không nên có thêm điều gì khác. Cô mà lấy chồng thì anh mất đi trợ thủ đắc lực này. Nếu cô cứ thế không chịu lấy chồng, lời ra tiếng vào dị nghị thì anh cũng khó giữ cô lại. Chỉ có tự sơ là thượng sách, tự sơ nữ đã tuyên thệ thì người ngoài ngược lại chẳng bới móc được gì. Anh có thể đường đường chính chính giữ cô bên mình như cánh tay đắc lực thứ hai.

Nhưng phong tục địa phương anh cũng hiểu. A Ngọc bái Quan Âm, lập lời thề, từ đây về sau nếu anh lại giống như ngày đầu gặp bên bờ sông đỡ cô một cái thì đều bị coi là phạm quy tắc. Nghĩ tới đây, anh chợt dấy lên vài phần không lỡ.

Minh Châu vẫn không tha: “Ông chủ Giang, anh nói một câu đi chứ!”

Anh chẳng tiện giả vờ điếc nữa, đành cất lời: “Đây là tự do của A Ngọc, bản thân cô ấy nghĩ kỹ là được.”

A Ngọc nghe câu đó chỉ thấy như có người ủng hộ mình, cúi đầu mỉm cười nhẹ. Minh Châu lại nhìn thấu tâm tư của anh, hắt ra một tiếng cười khẩy: “Thì ra là thế. Ông chủ Giang lúc nào cũng chọn điều có lợi cho bản thân mình.”

Nói xong cô không thèm để ý tới Giang Kỳ Nguyên nữa, quay sang bảo A Ngọc: “Chị nếu muốn làm lễ tự sơ thì suy nghĩ cho kỹ rồi hãy làm, làm rồi đừng có hối hận. Tôi nghe người ta bảo nước ngoài yêu đương tự do, những nơi như Thượng Hải, tỉnh thành cũng đang theo đuổi tự do hôn nhân. Kết hôn tự do, ly hôn cũng tự do. Nhưng tự sơ thì khác, một khi đã búi tóc lên thì khó mà tháo xuống, cả đời xem như đã mang thân có chồng. Ở cái chốn nhỏ bé này chỉ cần có chút động tĩnh xào xạc là bị người ta dị nghị, thậm chí còn bị nhúng lồng heo.”

A Ngọc ý đã quyết: “Tôi quyết định rồi.” Cái gì mà tự do hôn nhân, tự do ly hôn đối với cô là sách trời, là chuyện bên ngoài cõi trời nhỏ hẹp của cô, cô không dám mơ tưởng. Hiện giờ cô chỉ một lòng muốn kiếm thật nhiều tiền, mua một ngôi nhà thuộc về riêng mình, có thể cùng ở với những người tự sơ nữ thân thiết khác, chăm sóc lẫn nhau cho tới lúc tuổi già sức yếu.

Con đò chậm rãi lướt tới bến đò. Giang Kỳ Nguyên lên bờ, lẳng lặng giơ cao đèn soi bóng hai người phía sau. A Ngọc bảo, cảm ơn ông chủ Giang, rồi quay người dìu Minh Châu xuống đò. Trong mắt Minh Châu không có ông lái đò, không có ông chủ Giang, chỉ đăm đăm nhìn A Ngọc: “Tôi không cản chị. Nhưng ngày chị làm lễ tự sơ, tôi sẽ chải tóc cho chị.”