Chương 45: Bất ngờ, tuyệt diệu
*
Hoàng hôn buông xuống khi họ đáp xuống Nam Ninh.
Khi Tạ Sùng đi lấy xe, Mâu Văn đứng bên ngoài đón lấy ngọn gió ẩm ướt lùa thẳng vào mặt. Có người bóp nghẹt giọng hỏi cô muốn đi đâu, có đi xe không. Giọng điệu y hệt như người bạn học quê Quảng Tây của cô.
Mâu Văn thật sự nhịn không được, liền bật cười.
Tạ Sùng cầm chìa khóa xe bước ra hỏi cô: “Em nhe hai hàm răng trắng bóc ra cười cái gì thế?”
Mâu Văn nói: “Người Quảng Tây nói chuyện vui tai thật đó, em liền nhớ tới người bạn học Quảng Tây của mình.” Cô cũng bóp giọng nhại theo một câu: “Anh thuê xe hả?”
Tạ Sùng nói: “Không có thuê, mượn của bạn đó. Mấy chỗ cho thuê xe chẳng còn chiếc nào đáng tin cậy cả.”
“Anh cũng có bạn ở Quảng Tây nữa sao?”
“Cũng là người làm ăn ở Quảng Tây, quen biết lúc tham gia hoạt động.”
“Ồ ồ ồ. Chúng ta đi đâu vậy anh?”
“Em cứ đi theo anh là được.” Tạ Sùng nói: “Không đến nơi đông người, đi tới một nơi hoàn toàn khác biệt với quê hương của em.”
Nơi họ sắp đến là Sùng Tả. Trước đây, Mâu Văn chưa từng nghe qua địa danh này. Nhắc đến Quảng Tây, liền nghĩ ngay tới câu “Sông nước Quế Lâm đệ nhất thiên hạ” trong sách giáo khoa, và món bún gạo Quế Lâm mà Mâu Văn từng đi ngang qua khi đến Tòa nhà Sách Trung Quan Thôn. Có lẽ còn có những thứ khác, nhưng hai thứ này là sâu sắc nhất.
Đây là chuyến du lịch đúng nghĩa đầu tiên của Mâu Văn. Cô cảm thấy chuyến hành trình đúng nghĩa đầu đời này, khởi điểm có phần quá cao rồi.
Đến sân bay, họ vào phòng chờ trước, thấy bên trong có rất nhiều đồ ăn. Tạ Sùng gợi ý cô ăn mì thịt bò, anh nói: “Nói một cách công bằng thì món mì thịt bò này thêm chút tương ớt và giấm vào ăn cũng không tệ, dĩ nhiên, em bảo họ múc thêm cho ít thịt bò cũng chẳng sao.”
Bản thân anh khi đi công tác không muốn ăn suất ăn trên máy bay thì sẽ ăn món này ở phòng chờ.
Mâu Văn vốn dĩ có sức ăn tốt, nghe nói những thứ này đều miễn phí liền nghiêm túc dùng một bữa thật ngon lành. Mì thịt bò, bánh ngọt nhỏ, món xào nóng hổi, mỗi thứ đều lấy một ít.
Trước khi lên máy bay, loa phóng thanh thông báo hành khách đặc biệt được ưu tiên lên máy bay trước, Tạ Sùng kéo cô định đi. Mâu Văn đáng thương nhìn anh cầu xin: “Chúng mình đi dạo một chút đi anh.”
Cô muốn tiêu hóa bớt để lên máy bay lại ăn tiếp.
Tạ Sùng liếc mắt một cái, dắt tay cô đi dạo trong sảnh chờ. Từ đầu này đến đầu kia, đi ròng rã suốt hai mươi lăm phút, người khác vừa lên máy bay xong thì họ cũng vừa vặn bước vào cabin.
Tạ Sùng thậm chí còn hoài nghi nếu không phải không gian khoang máy bay quá nhỏ hẹp, Mâu Văn phỏng chừng sẽ tập vài hiệp chạy nâng cao đùi ở bên trong mất. Cô quá đỗi tự tại, chẳng màng đến ánh mắt của Tạ Sùng, cũng không bận tâm ánh nhìn của người khác. Cô nghĩ bụng, dẫu sao cũng đã bỏ tiền ra rồi, chúng ta ăn lại một chút chứ?
Một người theo chủ nghĩa thực dụng chân chính sẽ không bao giờ bị trói buộc bởi ánh mắt phù phiếm của kẻ khác.
Thế nhưng cô cũng có những lúc không được tự nhiên. Khi cô tiếp viên hàng không quỳ nửa chân trước mặt để thông báo lịch trình bay, đôi mắt cô chẳng biết phải nhìn vào đâu, cô không thể tự nhiên lắng nghe rồi chậm rãi gật đầu như những người khác. Cô không làm được điều đó. Điểm này Tạ Sùng lại giống hệt cô, anh cũng chẳng hề ưa thích. Tạ Sùng không thích là vì anh cảm thấy việc này đã phá vỡ khoảng cách giao tiếp thoải mái của mình.
Anh quá mực độc lai độc vãng. Thế nên anh trực tiếp nói với tiếp viên: “Tôi nghe rõ rồi, không cần phải nói riêng nữa đâu, cảm ơn.”
Mâu Văn cũng rất thích đồ ăn ở khoang hạng nhất, đĩa lớn tô nhỏ bày biện ra trông vô cùng đẹp mắt, cô đều ăn sạch.
Tạ Sùng đối với sức ăn của cô thì chẳng có gì kinh ngạc, anh thậm chí còn nghĩ đây là chiếc vé khoang hạng nhất xứng đáng nhất mà mình từng bỏ tiền mua: không hề lỗ vốn, đều đã ăn lại đủ cả. Vì lẽ đó, anh bắt đầu tràn đầy mong đợi vào chuyến hành trình này.
Trên con đường hướng về Sùng Tả, hoàng hôn buông lơi xuống nhân gian. Hoàng hôn nơi thảo nguyên vốn thênh thang không bờ bến, còn hoàng hôn xứ Quảng Tây lại lấp ló sau những rặng núi trùng điệp. Những ngọn núi sừng sững, kỳ vĩ mọc lên từ lòng đất, ánh tà dương len lỏi qua các khe núi, trải dài trên làn nước xanh biếc.
Cửa sổ xe hạ xuống, ngọn gió thổi tung làn tóc của hai người. Mâu Văn đưa tay ra khỏi mui xe trần để cảm nhận lồng lộng gió trời, ngọn gió mang theo hơi ẩm đã hong mềm linh hồn khô cằn của cô. Một lát sau cô rụt tay lại, bảo: “Trời đất, lạnh quá.”
Tạ Sùng nhìn biểu cảm của cô qua lớp kính mát, liền cười lớn ha ha.
Chiếc xe băng qua con đường lộ quanh co, những thác nước, núi non, sông ngòi, ruộng đồng, điền trang, thảy đều trở nên dịu dàng xiết bao trong buổi chiều tà của nhân thế.
Mâu Văn khác hẳn với vẻ líu lo thường ngày, bỗng chốc trở nên tĩnh lặng. Cô cảm thấy đôi mắt mình dường như không đủ để ôm trọn cảnh vật, cô giống như một đứa trẻ mới lọt lòng, không ngừng dõi mắt nhìn ngắm thế giới mới lạ này.
Cô không kìm được liền gọi điện thoại cho ba mẹ, báo rằng mình đã đến Quảng Tây. Cát Vân Thanh nói: “Quảng Tây ư? Xa xôi đến dường ấy sao con.”
Mâu Đức Xương từng chạy xe tải lớn đến Quảng Tây, liền căn dặn cô: “Các con lái xe phải chậm một chút nhé, tới đoạn đường cua nhớ bấm còi. Buổi tối đừng có lái xe ra ngoài, bên đó đêm xuống tối mịt mùng.”
“Không có tối đâu ba, bây giờ là năm 2012 rồi, đâu phải năm 1995 nữa.” Mâu Văn vừa dứt lời liền nhìn thấy con đường phía trước, thốt lên một tiếng úi chao: “Ba nói đúng rồi, tối thật đó, tối đen như mực.”
Tạ Sùng nói: “Ba đừng lo lắng, con có kinh nghiệm mà, với lại tụi con cũng sắp tới Sùng Tả rồi.”
“Mau đi chơi đi, không nói chuyện nữa.” Ông cụ dứt khoát cúp máy vì sợ làm ảnh hưởng đến việc lái xe của họ.
Họ xuyên qua một màn đêm mịt mùng, sau cùng dừng xe lại giữa tiếng ếch nhái râm ran. Xung quanh tối đen như mực, chỉ có vài ngọn đèn nhỏ đặt sát đất dẫn lối đưa họ đến trước một ngôi nhà.
Họ lưu trú giữa đồng ruộng và núi non. Mâu Văn phải đợi đến khi mở mắt vào ngày hôm sau mới chiêm ngưỡng được tất thảy cảnh tượng này. Cô nhìn thấy một ông lão dắt con trâu già đi trên bờ ruộng phía trước, đi một lát liền rẽ lên cây cầu nhỏ, cuối cùng mất hút nơi chân núi.
Thật là yên bình. Tiếng ve kêu, tiếng ếch nhái, tiếng trâu già trầm đục, gió thổi qua ruộng lúa rì rào, hương cỏ xanh nồng nàn tràn ngập cánh mũi. Mâu Văn vui sướng chạy ùa ra khỏi phòng, lao về phía cánh đồng bao la.
Tạ Sùng ở phía sau đuổi theo cô, hai người chạy một vòng lớn quanh khách sạn rồi mới trở về phòng tắm rửa.
Tạ Sùng để Mâu Văn lựa chọn cách đi chơi: một là mỗi ngày thức dậy sớm đi đến đêm muộn mới về, đi thật nhiều nơi để khám phá cho bằng sạch nơi này; hai là mỗi ngày ngủ đến khi tự tỉnh giấc, thong dong dạo chơi quanh vùng.
Tạ Sùng sợ Mâu Văn chọn cách thứ nhất. Đó là kiểu đi chơi mà anh ghét nhất, anh sẽ cảm thấy vô cùng mệt mỏi. Nhưng anh tôn trọng Mâu Văn, người đón sinh nhật là cô, cô có quyền lựa chọn phương thức mà mình mong muốn.
Mâu Văn chọn cách thứ hai. Cô đã hòa mình vào trong cảnh sắc rồi, chẳng còn vội vã đường xa nữa.
Ở lại Sùng Tả suốt sáu ngày. Mỗi ngày đều ngủ cho tới khi tự tỉnh giấc, sau đó lái xe ra ngoài dạo quanh, trông thấy nơi nào đẹp đẽ liền dừng lại lưu luyến một hồi. Hầu như ngày nào họ cũng ra mặt nước “bồng bềnh trôi”, ngoại trừ ngày đổ mưa lớn, đó là phần mà Mâu Văn yêu thích nhất.
Nước nơi đây dường như tĩnh lặng vô cùng. Chiếc bè tre của họ nằm trên mặt nước, họ nằm trên chiếc bè tre, trời xanh mây trắng lùi dần về phía sau như một chiếc đèn kéo quân, ngắm đến mỏi mắt thì nhắm nghiền mi lại ngủ một giấc ngắn.
Tạ Sùng hỏi Mâu Văn vì sao lại thích trôi nổi như vậy, Mâu Văn bảo cảm giác ấy kỳ diệu biết bao, cứ như thể bản thân là một chiếc lá tự do tự tại, nương theo ngọn gió hay thuận theo dòng nước đều được cả.
“Sao em không tưởng tượng mình là một con giun nước đi, muốn rúc vào đâu thì rúc…” Tạ Sùng trêu chọc cô.
Mâu Văn phát nhẹ vào người anh, liền bị anh nắm chặt lấy tay. Hai bàn tay của họ đan xen đặt giữa thân mình, Tạ Sùng nói: “Ngủ một lát đi.” Thế là họ chợp mắt một lúc.
Có một ngày họ thức dậy trông thấy bên ngoài mưa đổ tầm tã, cô đặc biệt vui sướng, lao thẳng vào màn mưa. Mái tóc và quần áo của cô nhanh chóng ướt sũng, tiết trời mười mấy độ khiến cô lạnh thấu xương. Ấy thế mà cô vẫn cười đùa, chạy nhảy giữa cơn mưa lớn, hét to lên rằng: “Vui quá đi mất! Thế giới này quả thật quá đỗi vui tươi!”
Kế đến cô chạy ùa về phòng, lao vào phòng tắm, gột rửa sạch sẽ bằng một trận tắm nước nóng sảng khoái. Sau đó tự pha cho mình một tách trà ấm, ngồi trước ô cửa kính sát đất ngắm mưa rơi.
Cô ngắm mưa, còn Tạ Sùng ngắm cô. Cô chẳng có một nét nào lạc điệu, cô đã hòa quyện vào bức tranh thiên nhiên, chính cô đã là một khoảng trời cảnh sắc.
Sau đó cô bước đến bên anh, cùng anh tựa lưng vào thành giường, dõi mắt nhìn thế giới xanh mướt, ẩm ướt ngoài kia vừa được gột rửa tinh khôi sau trận mưa bão.
Họ ái ân vào ngày mưa gió ấy. Dù sao thì cũng chẳng thể đi đâu được.
Cô ngồi trên người anh, kéo lấy bàn tay anh áp lên đôi gò má của mình. Đầu ngón tay anh khẽ lướt qua cánh mũi cô, dừng lại nơi chóp mũi đáng yêu, rồi hạ dần xuống bờ môi mọng nước.
Ngón tay anh thay cho đôi môi mà hôn lấy cô, họa theo hình dáng làn môi cô, nhịp nhàng khẽ khàng lượn lờ qua lại. Cô hơi nghiêng mặt, ngậm lấy đầu ngón tay anh.
Ánh mắt cô dần trở nên mơ màng, tựa như mảnh đất màu mỡ được tưới tắm dưới cơn mưa lớn, đượm vẻ ướt át. Anh rút ngón tay ra, cô lại lần nữa ngậm lấy.
“Hôn em đi, Tạ Sùng.” Cô thốt lên một tiếng nỉ non trong căn phòng tối mờ, anh nhỏm người dậy, đặt nụ hôn sâu lên môi cô. Bàn tay anh luồn vào trong vạt áo liền bị cô giữ chặt lại, cô nói: “Đừng vội, chậm một chút được không anh? Dù sao hôm nay cũng chẳng có việc gì.”
Cô muốn tiêu dao hết thảy một ngày dài như thế. Về sau Tạ Sùng quay sang trả đũa cô, anh nhận thấy cô sắp sửa chạm đến đỉnh điểm liền đột ngột dừng lại. Mâu Văn lơ lửng ở lưng chừng, khó chịu khôn nguôi, anh lại bảo: “Đừng vội, chậm một chút, dù sao hôm nay cũng chẳng có việc gì.”
Liên tiếp ba lần, cô cứ vơ vẩn bên bờ vực, tưởng chừng như sắp phát điên lên được, từng tế bào trên cơ thể đều căng tràn, thảy đều bị khuấy động. Cô bật khóc cầu xin anh: “Tạ Sùng, cho em đi.”
“Gọi chồng đi.” Tạ Sùng bắt cô phải gọi chồng. “Chồng ơi, em yêu anh. Chồng ơi…”
Tạ Sùng bỗng chốc nhấc bổng cô lên khỏi giường, thân hình cô uốn cong tựa như cây cầu vòm nhỏ nhắn ngoài kia. Anh nhìn thấy trước ngực cô dấy lên những đợt sóng dập dềnh theo từng nhịp động tác của mình, thấy cả cần cổ và chiếc cằm của cô đỏ ửng một mảng. Tiếp đó, mọi cử động của cô đều ngưng bặt, cây cầu vòm đổ sụp xuống.
Mâu Văn dường như không còn thần trí nữa, cơn mưa ngoài kia trút xuống dữ dội bao nhiêu, thì bên trong cô cũng đang tuôn trào bấy nhiêu.
Đôi tay cô ghì chặt lấy tấm chăn nệm, đôi mắt nhìn trân trân vào Tạ Sùng.
Bàn tay anh lại áp lên gò má cô, dịu dàng vỗ về: “Đừng vội, chúng ta vẫn còn cả một ngày dài cơ mà.”
Ngoài trời mưa rơi suốt cả ngày, họ vẫn còn trọn vẹn một ngày bên nhau.
“Nếu như mưa mãi không tạnh thì sao?” Giọng cô run rẩy hỏi anh.
“Thì cứ làm mãi, làm cho tới khi mưa tạnh mới thôi.”
Họ chẳng mảy may thấy hổ thẹn vì điều đó. Họ vốn dĩ là những đôi lứa trẻ tuổi, sở hữu tư tưởng nhạy bén nhất cùng một cơ thể tráng kiện nhất, họ gặp gỡ nhau vào những năm tháng thanh xuân tươi đẹp nhất cuộc đời, để rồi có thể trong khoảnh khắc này mà rũ bỏ mọi sầu muộn chốn nhân gian, yêu nhau khôn cùng khôn tận, yêu đến độ quên cả bản thân. Điều ấy đáng trân quý biết nhường nào.
Mối nhân duyên lạ thường này mới quý giá làm sao. Mâu Văn cảm thấy cơ thể mình như được thông suốt hoàn toàn, giống như đã được cơn mưa lớn ngoài kia gột rửa, được làn nước nóng tắm táp, rồi lại được Tạ Sùng khai thông mạch lối. Từng lỗ chân lông của cô đều ngập tràn hoan lạc, các tế bào trong người lại phấn khích reo hò “Mình hạnh phúc quá”!
Vào đêm trước ngày rời đi, Tạ Sùng trao cho Mâu Văn một chiếc phong bì. Mâu Văn gặng hỏi đây là thứ gì?
“Quà sinh nhật.” Tạ Sùng nói: “Sinh nhật vui vẻ.”
Mâu Văn mở phong bì ra, thấy bên trong là một chiếc thẻ nạp sẵn tiền của hãng hàng không.
“Đi đi.” Tạ Sùng nói: “Sau này muốn đi đâu cứ tự mình mua vé.”
Anh chỉ mong Mâu Văn được vui lòng. Kể từ chuyến hành trình này, cô đã luôn dùng phương thức của riêng mình để bày tỏ tình yêu đối với thế giới: bất kể là món ăn gì, từ các loại bún, cháo chua, cho đến tiệc mẹt tre, cô đều nghiêm cẩn thưởng thức; bất kể là con đường nào, dù là bờ ruộng, đường núi hay đường lớn, cô đều sẵn lòng tản bộ. Cô nồng nhiệt lao vào từng khung cảnh thiên nhiên, đứng dưới thác nước ngửa mặt đón lấy những giọt nước đang “chạy nhảy”, cô che một chiếc ô nhỏ ngồi giữa vùng núi non lất phất mưa phùn.
Cô thậm chí còn chặn đường ông lão chăn trâu, giúp ông dắt con trâu xuống tận chân núi.
Ngang qua những nơi có nước, cô nhìn ngắm bóng hình mình phản chiếu trên mặt hồ, say sưa chiêm ngưỡng chiếc khăn vấn đầu của người Choang mà cô vừa mua; nghe thấy ca sĩ đường phố cất tiếng hát, cô liền đứng lại lặng thính một hồi; có những bà cụ người dân tộc thiểu số hát dân ca, cô liền chạy đến học theo họ; những món cô cho là ngon miệng như bún vịt quay, ốc đá xào, heo sữa quay… cô đều lân la học hỏi chủ quán cách chế biến.
Cô yêu tất thảy những gì diễn ra trong suốt chuyến đi. Trời xanh mây tạnh hay mưa dầm sùi sụt, cô đều đón nhận bằng cả tấm lòng. Nói theo ngôn từ của cô thì: “Thế giới này quả thật quá đỗi vui tươi!”
Tạ Sùng bị cô lây lan thứ xúc cảm ấy. Anh chưa từng có một chuyến đi nào như thế: một chuyến đi hứng khởi khởi hành, thỏa lòng quay gót. Anh thậm chí cảm thấy mình đã bị Mâu Văn biến thành một kẻ khờ khạo mất rồi.
Nhân viên trong công ty nếu như bắt gặp anh ở chốn này, chắc chắn sẽ chẳng tài nào tin nổi: tại sao vị tổng giám đốc mặt lạnh nghiêm nghị kia lại có thể ngồi xổm bên lề đường xì xụp ăn bún được chứ?
“Em có chút luyến tiếc.” Mâu Văn nói: “Tạ Sùng, đây là ngày sinh nhật long trọng nhất mà em từng được trải qua.”
“Vậy thì mỗi năm sinh nhật đều đón theo cách này.”
“Được không anh?” Mâu Văn cười hì hì: “Như vậy thì xa hoa quá đỗi rồi còn gì?”
“Không sao. Anh có tiền.”
Sau khi trở về Bắc Kinh, Tạ Sùng lại đi công tác. Một ngày nọ, Mâu Văn nhìn thấy Ngô Kỳ Lạc ở ngay cổng khu chung cư.
Cô vừa nhìn liền nhận ra Ngô Kỳ Lạc ngay, cô ta rất xinh đẹp lại vô cùng nổi bật. Ngô Kỳ Lạc lên tiếng chào hỏi cô, bảo rằng mình đang chuẩn bị sửa sang lại ngôi nhà của gia đình cũng nằm trong khu chung cư này, liền hỏi Mâu Văn có bằng lòng nhận việc không? Cô ta nói khi trò chuyện với bên trung gian, họ có bảo Kỹ sư Mâu trong khu này, tức là vợ của anh Tạ, chính là nhà thiết kế độc lập, có thể giúp cô ta sửa nhà.
Ngô Kỳ Lạc ra vẻ khá thành khẩn: “Cô có muốn giúp tôi làm một chút không? Tôi sẽ trả tiền theo đúng quy định mà.”
Mâu Văn chợt nhớ Tạ Sùng từng kể Ngô Kỳ Lạc thích anh, nhưng anh từ nhỏ đã chẳng hề ưa cô ta. Cho dù bản thân rất muốn nhận công việc này, cô vẫn không mong đem lại phiền toái cho Tạ Sùng. Hơn nữa chẳng biết vì cớ gì, Mâu Văn cảm thấy Ngô Kỳ Lạc đến đây với ý đồ không tốt.
Cô lịch sự từ chối: “Xin lỗi chị Ngô, công việc hiện tại của tôi đã kín lịch rồi, không thể giúp chị sửa sang nhà cửa được. Chị có thể liên hệ với những công ty khác.”
Nói đoạn, cô định cất bước đi, song lại bị Ngô Kỳ Lạc chặn đứng lối đi. Ngô Kỳ Lạc hỏi cô: “Người ngoài đều không biết Tạ Sùng đã kết hôn, nhưng tôi lại biết rõ. Hai người thực sự đã kết hôn rồi, đúng chứ?”
Mâu Văn không rõ Ngô Kỳ Lạc nói vậy là có ý đồ gì, thế nên cô cứ đứng im lặng tại chỗ, chẳng hé môi.
“Tôi khá bất ngờ khi Tạ Sùng lại kết hôn đấy, bởi vì Tạ Sùng từ nhỏ đã đem lòng yêu…” Cô ta nói được nửa câu bèn ngưng lại, bày ra vẻ mặt muốn nói lại thôi: “Thôi dẹp đi, không nhắc tới nữa. Sau khi sửa nhà xong tôi cũng sẽ dọn đến đây ở, mai này xin mời hai người đến nhà dùng bữa nha.”
Mâu Văn lại mỉm cười. Cô nào có khờ khạo, kỹ nghệ diễn xuất của Ngô Kỳ Lạc thật quá đỗi vụng về.
Cô thẳng thừng đáp: “Chị Ngô đây là muốn nói Tạ Sùng từ nhỏ đã có người trong mộng phải không? Chẳng sao cả, tôi đã tường tận từ lâu rồi. Điều đó không hề gây cho tôi chút bận lòng nào đâu. Ngược lại là chị Ngô đây, tôi từng gặng hỏi Tạ Sùng rồi, anh ấy bảo không hề hoan nghênh chị đến nhà chúng tôi, hai người cũng chẳng phải bạn bè gì. Anh ấy nói bản thân từ hồi bé đã ghét chị rồi.”
Mâu Văn nhìn thấy sắc mặt Ngô Kỳ Lạc thay đổi hẳn, cô liền nhún vai một cái. Nếu như lúc này Ngô Kỳ Lạc dám động thủ với cô, cô cũng đã sẵn sàng tặng cho cô ta một trận đòn. Cô căm ghét kẻ khác nhúng tay phá hoại tình cảm giữa mình và Tạ Sùng.
Cô thà chấp nhận để tình cảm của hai người theo dòng thời gian mà lụi tàn dần, chứ tuyệt nhiên không dung thứ cho kẻ ngoài đến quấy nhiễu.
Ngô Kỳ Lạc có lẽ tưởng rằng cô là một con cừu non nhu nhược dễ bắt nạt, thế nên mới dám đứng trước mặt cô mà khua môi múa mép như vậy. Thế thì cô ta quả thật đã nhìn lầm người rồi.
Cô ta nên lau sạch đôi mắt mình trước rồi hãy đến trêu chọc cô.
Mâu Văn nói xong liền hiên ngang quay gót rời đi. Đến tối, cô đem chuyện Ngô Kỳ Lạc sắp dọn về đây sống kể lại cho Tạ Sùng nghe, Tạ Sùng liền hỏi: “Có phải cô ta đã phá sạch căn nhà đang ở hiện tại rồi không?”
“Ý anh là sao?” Mâu Văn hỏi.
“Ngô Kỳ Lạc là một kẻ phá gia chi tử.” Tạ Sùng nói: “Có một năm cô ta bị người ta dụ dỗ sang Ma Cao đánh bạc, nướng sạch cả một căn nhà.”
“Hả?” Mâu Văn vô cùng kinh hãi: “Đánh bạc bao lâu mà bay mất một căn nhà vậy anh?”
“Ba tiếng đồng hồ.” Tạ Sùng nói: “Cha mẹ cô ta tức đến đổ bệnh. Hạng người như Ngô Kỳ Lạc, cách tốt nhất để giữ gìn gia sản chính là nhốt chặt cô ta ở trong nhà. Bằng không, cái sản nghiệp nhà đó sớm muộn gì cũng bị cô ta tàn phá cho bằng sạch.”
Mâu Văn nghe Tạ Sùng phân trần như vậy, trong lòng thầm thấy may mắn vì bản thân đã khước từ Ngô Kỳ Lạc. Nếu không, phần nhiều cô sẽ phải công dã tràng, sửa sang nhà cửa cho cô ta xong lại chẳng thu về được một đồng cắc nào.
Cuối năm 2012, Mâu Văn tích cóp đủ số tiền để thuê mặt bằng tầng trệt thương mại, bắt đầu tiến hành tìm kiếm nhà. Cô ngỏ lời mời Tiểu Cố cùng về làm việc với mình, Tiểu Cố liền vui vẻ nhận lời.
Hai người bọn họ cùng nhau dùng một bữa món Hồ Nam, lại phá lệ nhấm nháp chút rượu nồng, nâng ly chúc tụng cho mối bang giao “vĩ đại” này. Lúc chia tay, Tiểu Cố tặng cho Mâu Văn một quyển sách mang tựa đề “Cây mọc ở Brooklyn”.
Tiểu Cố bộc bạch: “Kỹ sư Mâu, trong những cuốn sách chị đọc dạo gần đây, đây chính là quyển chị tâm đắc nhất. Đứa trẻ này lấy khu ổ chuột của vùng Brooklyn làm khởi điểm, chưa bao giờ từ bỏ việc đèn sách, cuối cùng mượn tri thức làm nấc thang để thi đỗ vào Đại học Michigan, hoàn thành một bước ngoặt trọng đại của cuộc đời. Khi lật mở từng trang sách, chị không ngừng liên tưởng đến hai chúng ta, đây chính là câu chuyện thuộc về riêng hai đứa mình.”
Mâu Văn đón lấy cuốn sách, áp chặt vào lồng ngực mình: “Cảm ơn chị, Tiểu Cố. Thực ra em chẳng nên gọi chị là Tiểu Cố đâu, chị lớn hơn em vài tuổi mà.”
“Cứ gọi là Tiểu Cố đi.” Tiểu Cố nói: “Chúng ta đều trẻ trung như nhau cả.
Dứt lời, Tiểu Cố ôm lấy Mâu Văn một cái, vì buổi tối còn phải thực hiện một chương trình chia sẻ sách thiếu nhi nên chị ấy vội vã rời đi.
Mâu Văn ôm khăng khăng quyển sách bước vào đêm đông lạnh giá của đất Bắc Kinh, đôi mắt rạng ngời ngẩng cao đầu sải bước tiến vào năm 2013, rồi đi tới năm 2014.
Bước ra khỏi khu ổ chuột vùng Brooklyn, để đặt chân vào giảng đường Đại học Michigan.
