Chương 35: Quê nhà: Mơ tưởng, hiện thực
*
Anh chưa từng ngủ trong lều Mông Cổ thực thụ, lại càng không được trải nghiệm cảm giác mưa rơi trên mái lều, cứ như tiếng trống gõ nhịp, lúc lại dồn dập, lúc lại càng dồn dập hơn. Cơn mưa bên ngoài như thể bầu trời sắp đổ sập xuống, không một phút giây ngơi nghỉ.
Trong hoàn cảnh như thế, giấc ngủ của con người sẽ vô cùng sâu, đến nỗi tiếng sấm sét đinh tai nhức óc vang lên bên ngoài, anh cũng chẳng hề hay biết.
Giấc ngủ này thật kỳ diệu, tựa hồ như vừa thực hiện một liệu trình trị liệu toàn thân cho anh, vừa chìm vào giấc nồng, anh vừa cảm nhận được cơ thể mình ngày càng nhẹ nhõm. Dường như trong giấc mộng, anh sắp sửa bay lên. Tóm lại, cả người nhẹ bẫng, lấp đầy bởi niềm vui sướng và hạnh phúc.
Khoảng hai ba giờ sáng, mưa tạnh, không còn gõ trống trên đỉnh đầu nữa.
Tạ Sùng lật người, nhận ra bên cạnh không có ai. Trong chớp mắt anh tỉnh giấc, vội vã cất tiếng gọi: “Mâu Văn? Em đang ở đâu?”
Bên ngoài truyền đến giọng nói hạ thấp của Mâu Văn: “Tạ Sùng, em ở đây này~ Em đang ở bên ngoài~” Giọng nói của cô như mang theo hơi lạnh, tựa như vọng lại từ tận chân trời xa xôi.
Tạ Sùng khoác áo ngồi dậy, nhìn thời gian rồi hỏi: “Mưa tạnh rồi sao?”
“Tạnh rồi. Tạnh được một lúc rồi.”
“Tại sao em không ngủ?” Tạ Sùng nói: “Em mau vào ngủ đi.”
“Em không vào đâu. Tạ Sùng, anh ra đây xem đi, anh nhìn thấy rồi cũng sẽ chẳng muốn vào ngủ tiếp đâu.” Mâu Văn gõ nhẹ vào cánh cửa gỗ của lều Mông Cổ, gọi Tạ Sùng: “Ra đây đi~”
Tạ Sùng quấn chăn đi ra ngoài, đẩy cửa lều, nhận thấy bên ngoài sương đêm càng thêm đậm đặc. Cái lạnh tức thì luồn vào trong cổ áo khiến anh không khỏi quấn chặt tấm chăn hơn.
Mưa đã dứt, ánh trăng treo lơ lửng trên cao, ánh trăng trong trẻo như được gột rửa, cả thế giới đều trở nên thanh khiết và tinh khôi nhường ấy.
Ánh trăng trên thảo nguyên dường như mang sắc màu, bạc trắng, tỏa sáng lung linh, tất thảy đều đổ dồn xuống người Mâu Văn. Mâu Văn đang ngồi trên chiếc ghế đẩu nhỏ, nghe động tĩnh liền ngoái đầu nhìn anh: “Anh tỉnh rượu rồi sao?”
“Chút rượu ấy thì thấm tháp vào đâu.” Tạ Sùng cũng tìm một chiếc ghế đẩu ngồi xuống cạnh cô: “Chỉ cần chợp mắt một lúc là tỉnh rượu ngay. Sao em không ngủ?”
“Em tiếc không nỡ ngủ.” Mâu Văn đáp: “Giờ em chỉ muốn lấy tăm chống đôi mi mình lên thôi, đêm trên vùng chăn thả này đẹp quá, em nhìn mãi mà cũng không đủ.”
Cô vươn tay chỉ cho Tạ Sùng: “Anh xem, đằng chỗ chuồng cừu kia.”
Đàn cừu nhỏ đã ra khỏi chuồng, chen chúc nhau ngủ dưới bầu trời, chốc chốc lại vang lên tiếng kêu be be. Ánh trăng phủ lên lớp lông của chúng một màu bạc trắng, nhìn từ xa tựa như một đám mây lớn đang chất chồng trên thảo nguyên.
“Anh nhìn cỏ nữa đi.” Mâu Văn lại bảo Tạ Sùng nhìn cỏ. Những ngọn cỏ bị hạt mưa làm trĩu xuống, ánh trăng như bật đèn soi lên những giọt nước nhỏ, hạt nào hạt nấy trông đều lấp lánh sáng ngời. Một cơn gió nhẹ thoảng qua, những hạt nước rơi xuống nền đất, màu đất thoạt tiên sẫm lại, rồi nước thấm dần, bị mặt đất hút cạn, màu sắc lại trở về như cũ.
Ánh trăng cũng soi rọi lên thân chú thỏ nhỏ. Chú thỏ nhỏ ra ngoài dạo chơi giữa đêm khuya, nhảy từng bước một, lúc nhảy lên thì bị ánh trăng bắt lấy, lúc rơi xuống đất lại bị mặt cỏ ôm trọn.
“Có phải đặc biệt đẹp không? Chỉ là hơi lạnh thôi.” Mâu Văn run rẩy nép sát vào người Tạ Sùng, lầm bầm: “Đêm lạnh thật đó.”
Tạ Sùng mở tấm chăn ra cho Mâu Văn chui vào, hai người cùng quấn chung một tấm chăn, ngồi kề vai, ngước nhìn vầng trăng.
“Say rồi chẳng biết trời trong nước, đầy thuyền mộng đẹp trĩu ngân hà.” Tạ Sùng ngâm nga câu thơ ấy. Mâu Văn kinh ngạc nhìn anh, nội tâm chấn động khôn cùng, đời này cô lại có được người có thể cùng thưởng trăng ngâm thơ như thế.
Đúng là một người như thế, cùng ngồi dưới ánh trăng, tâm tình đôi điều. Cảm giác ấy thật đỗi trân quý.
“Hồi nhỏ mỗi lần đến vùng chăn thả, tối đến em chẳng muốn ngủ. Vùng chăn thả có dải ngân hà, lần đầu tiên em nhìn thấy ngân hà, chỉ biết đọc thuộc lòng câu ‘Ngỡ là Ngân Hà từ chín tầng trời đổ xuống’. Thời đại học em đến Thiên Tân, Thiên Tân nào có ngân hà cơ chứ? Đèn thành phố còn sáng hơn cả ngân hà.” Mâu Văn cứ thế tự mình nói với Tạ Sùng.
“Đêm đến vùng chăn thả, em cứ ngồi thế này. Thực ra ngồi thế này chẳng có ý nghĩa gì, nhưng em lại thấy thế giới này quá đỗi xinh đẹp, em muốn ngắm thêm một lát.”
“Khi ấy em còn là một đứa trẻ bé xíu, bố mẹ đang ngủ ở bên trong, em cứ ngồi thế này ngắm thảo nguyên, em cũng chẳng thấy sợ. Thực ra đêm có trăng, thảo nguyên chẳng hề đáng sợ, đáng sợ là những lúc không có trăng.”
“Có đôi khi chẳng có trăng cũng chẳng có sao, xung quanh tối đen như mực. Bóng tối tựa như một cái miệng máu toang hoác đang chực chờ nuốt chửng lấy em.”
“Bắc Kinh không có những lúc tối đen hoàn toàn như vậy.” Mâu Văn nói: “Có lẽ cũng có, nhưng bản thân em chưa từng trải qua.”
Mâu Văn tựa đầu vào vai Tạ Sùng, nghĩ đến lời thì thầm “Vợ à, yêu em” lúc anh say rượu, cảnh này tình này, thật khiến người ta rung động.
“Tạ Sùng, lần này đưa anh về quê nhà của em, em rất vui. Em biết trước kia có lẽ anh chưa từng nghe đến nơi này, em giới thiệu quê hương, gia đình mình cho anh biết, có thể họ không giống những người anh từng quen biết, nhưng anh có thể nghiêm túc đối đãi với họ như vậy, em rất vui… em…”
“Hô… hô…”
Mâu Văn nghe thấy tiếng ngáy khẽ, dời đầu khỏi vai anh, xoay mặt ghé sát lại nhìn: Anh ngủ rồi. Ngay lúc cô tỏ tình với anh, anh lại ngủ thiếp đi.
Mâu Văn liền nổi giận, đứng bật dậy, đá vào cái ghế đẩu nhỏ của Tạ Sùng một cái, anh vừa giật mình tỉnh giấc vừa ngã ra bãi cỏ, đợi đến khi anh phản ứng lại thì Mâu Văn đã quay về lều Mông Cổ rồi.
Tạ Sùng đuổi theo để “trừng trị” cô, Mâu Văn không ngừng đá đánh anh, cô mệt rồi thì chăn đắp lên, sau đó ngủ mất.
Trong bóng tối, Tạ Sùng gọi cô: “Mâu Văn.”
“Nói mau!” Ý cô là bảo anh có gì thì cứ nói thẳng ra.
Tạ Sùng bật cười: “Hôm nay ba em nói có một con bò già vừa sinh bê con hôm kia. Mai em đưa anh đi xem nhé.”
“Xem cái đó làm gì?”
“Anh muốn xem sự khác biệt giữa em và con bê nhỏ ấy là gì.” Tạ Sùng nói: “Anh thấy em có lẽ còn lợi hại hơn cả bê con đấy.”
Mâu Văn thực sự muốn cho anh một trận, nhưng cô đã quá buồn ngủ, quyết định tha cho anh một lần. Cô xoay người một cái, lăn ra ngủ thiếp đi. Tạ Sùng lúc này lại chẳng còn buồn ngủ nữa, bèn ghé sát mặt vào ngắm cô. Nào ngờ cô trong cơn mơ màng lại cảm nhận được, bèn tung chân đá anh thêm một cái nữa.
Cô ngủ ngon, sáng hôm sau bị âm thanh bên ngoài đánh thức. Cô nghe thấy có người kêu: “Chặn lại! Chặn lại! Chụp lấy! Chụp lấy nó!”
Thỉnh thoảng lại nghe tiếng Tạ Sùng: “Đứng lại cho tao!”
Cô ngáp dài một cái rồi bước ra ngoài xem, bên ngoài lều Mông Cổ rối loạn cả lên.
Tạ Sùng mặc chiếc áo choàng Mông Cổ không rõ ai đưa cho, đang hì hục bắt cừu. Con cừu chạy đằng trước, anh đuổi theo đằng sau. Chó chăn cừu chặn ở phía trước con cừu, ban đầu Mâu Văn tưởng chó chăn cừu đang giúp Tạ Sùng, nhìn chừng nửa phút mới hiểu ra: Chó chăn cừu đang chỉ huy con cừu nhỏ bỏ chạy.
Mâu Văn ngồi xổm dưới đất cười, sắp cười ra nước mắt, hỏi người nhà: “Có chuyện gì thế ạ?”
“Chúng tôi bảo hôm nay sẽ nướng một con cừu, cậu ấy nói cậu ấy sẽ đi bắt.” Người nhà nói với Mâu Văn: “Cậu ấy bảo cậu ấy chạy rất nhanh, bắt một con cừu nhỏ rất dễ. Sau đó cậu ấy chỉ vào con số 65 trong đàn cừu, nói con số 65 có đôi mắt hai mí rất đẹp, lông mi rất dài, cậu ấy muốn ăn cặp mắt xinh đẹp của nó.”
“Hôm qua anh ấy còn an ủi đám cừu nhỏ kia, hôm nay đã muốn ăn ‘cừu chỉ tay’ rồi, thật là xấu tính.” Mâu Văn cố ý nói như vậy, rồi hỏi tiếp: “Bắt bao lâu rồi ạ?”
“Hai mươi phút rồi.”
Lúc này Tạ Sùng chạy về phía cô, hét lớn: “Tránh ra! Nhường đường!”
Mâu Văn đứng yên tại chỗ, chỉ hơi dang rộng hai chân. Khi con cừu nhỏ chui qua giữa hai chân cô, cô bất ngờ cúi người túm lấy tai cừu. Động tác nhanh đến mức Tạ Sùng thậm chí còn không nhìn rõ, con cừu nhỏ kia sao lại nằm gọn trong tay cô rồi?
Tiếp đó cô ngồi xổm xuống ôm con cừu nhỏ hỏi Tạ Sùng: “Bắt cừu khó không anh? Không khó chứ hả?”
Tạ Sùng thở hổn hển, nói tiếp: “Không ăn nữa, không ăn cừu nướng nguyên con nữa. Bà ơi, không ăn cừu nướng nguyên con được không ạ? Nó chạy nhanh thế này, cháu bắt không được, có lẽ là ông trời không cho cháu ăn nó.”
“Ở đây chúng tôi tiếp khách đều phải làm thịt cừu.” Bà nói.
“Cháu muốn ăn thịt cừu xiên nướng.” Tạ Sùng nói: “Cháu muốn ăn thịt cừu xiên nướng. Cháu thấy trước đó còn thừa thịt mà.”
Chẳng nỡ lòng.
Anh cố tình dựng lên màn kịch này, cũng chỉ vì không muốn ăn con cừu nhỏ vừa mới “làm quen”. Bà cũng nhìn ra Tạ Sùng là người sống giàu tình cảm, bèn trêu anh: “Hôm nay ăn chay.”
“Ăn chay tốt lắm ạ!”
Đợi họ dùng bữa sáng xong, Mâu Văn dắt tới hai con ngựa trắng, trao dây cương của một con cho Tạ Sùng, muốn dẫn anh đi chăn cừu. Mâu Văn rất thích chăn cừu, công việc này rất thú vị, chẳng hề nhàm chán chút nào.
Tạ Sùng đón lấy dây cương, áp đầu vào trán ngựa, chẳng biết đang lẩm bẩm điều gì, rồi vỗ vỗ vào nó. Con ngựa khẽ “phù” một tiếng, tựa như đang đáp lại rằng nó đã hiểu, lúc này anh mới xoay người lên ngựa.
Động tác lên ngựa của Tạ Sùng vô cùng dứt khoát, khi ngồi trên lưng ngựa trông lại càng oai phong lẫm liệt, tựa như một “vị tướng trên lưng ngựa” vậy.
Mâu Đức Xương thấy anh thao tác thuần thục liền hỏi: “Con biết cưỡi ngựa à? Giỏi thật đấy.” Người ta vẫn nói trẻ con thành phố phát triển toàn diện cả “đức, trí, thể, mỹ, lao”, quả nhiên không sai, ngay cả môn thể thao như cưỡi ngựa cũng biết.
“Con từng học qua ạ.” Tạ Sùng đáp.
“Cưỡi ngựa mà cũng cần phải học sao? Chẳng phải bẩm sinh đã biết rồi ư? Cứ tiếp xúc một chút là tự biết thôi.” Mâu Đức Xương lại hỏi. Người vùng thảo nguyên hình như chẳng ai từng học cưỡi ngựa cả, từ thuở còn thơ đã bị người lớn quăng lên lưng ngựa. Năm sáu tuổi, mặt chữ còn chưa biết được bao nhiêu, nhưng đã biết cưỡi ngựa rong ruổi khắp chốn rồi.
Tạ Sùng cũng chẳng tiện nói ra việc mình đã tốn ngót nghét hai trăm nghìn tệ để học, anh chỉ đành cười trừ.
Mâu Văn lúc này ở bên cạnh nói: “Người ta tốn hai trăm nghìn tệ để học đấy, học kỹ thuật cưỡi ngựa chuyên nghiệp đấy ạ!”
“Hai trăm nghìn tệ?” Mâu Đức Xương trợn tròn mắt: “Học cưỡi ngựa?”
“Đó là một bộ môn thể thao.” Tạ Sùng giải thích: “Nó có thể không giống lắm với cưỡi ngựa thường ngày… Nó rất phức tạp, cũng rất…”
“Vậy sao?” Mâu Văn hỏi anh, cô nắm lấy dây cương, Tạ Sùng còn chưa nhìn rõ, cô đã bay lên lưng ngựa ngồi vững vàng. Đúng vậy, cô lên ngựa bằng cách bay người lên, dường như việc lên ngựa chẳng cần chút dừng lại nào, chỉ vèo một cái là đã bay lên trên rồi.
Tạ Sùng sững sờ. Anh nhớ mình từng hỏi Mâu Văn có biết cưỡi ngựa không, Mâu Văn bảo chỉ biết cưỡi qua loa. Anh nào biết “cưỡi qua loa” của cô lại ở cái mức “bay người lên lưng ngựa” như thế này.
Mâu Văn đột nhiên vung roi kẹp chân ngựa lao đi, cô ngồi lỏng lẻo thoải mái trên lưng ngựa, chạy đến phía trước rồi đột ngột ghì dây cương. Ngựa chồm hai chân trước lên cao, phát ra tiếng hí vang, vài giây sau mới hạ xuống.
“Đây có phải là bộ môn đó không?” Mâu Văn hét lớn: “Hay là em biểu diễn cho người Bắc Kinh xem một màn xoạc chân trên lưng ngựa nhé?” Nói đoạn, cô đắc ý hất cằm, sợ Tạ Sùng đánh mình nên cưỡi ngựa phóng đi trước.
Tạ Sùng cảm thấy ấn tượng của mình về người Nội Mông hoàn toàn chính xác: Họ quả thực là cưỡi ngựa đi học!
Anh vừa hậm hực vừa đi theo đàn cừu. Hôm nay họ phải lùa đàn cừu ra bờ nước uống, vượt qua hai sườn cỏ là tới nơi. Anh và Mâu Văn đứng ở hai bên đàn cừu, còn chó chăn cừu thì chạy ngược chạy xuôi, bận rộn không ngớt.
Đoàn quân đông đúc di chuyển trên thảo nguyên, Tạ Sùng lo cừu lạc, nên cứ nhìn không chớp mắt. Mâu Văn thì miệng ngậm một cọng cỏ, đu đưa trên lưng ngựa, trông như sắp ngủ gật tới nơi.
Nắng rất đẹp, nước cỏ rất tươi tốt, đàn cừu rất ngoan ngoãn, chó chăn cừu tận tụy làm nhiệm vụ, chẳng còn chuyện gì phiền lòng nữa. Tạ Sùng đột nhiên sinh lòng ngưỡng mộ người dân du mục, anh thậm chí cảm thấy làm người dân du mục thật tốt, tại sao cứ nhất thiết phải đến Bắc Kinh chịu cái tội đó làm gì.
Tạ Sùng hét lớn với Mâu Văn: “Có đua không?”
Trước đây anh vốn không phải người thích ganh đua, từ khi quen Mâu Văn, anh cứ muốn so tài với cô. Thể chất của Mâu Văn luôn khiến anh cảm thấy nếu không so tài một phen thì thật đáng tiếc.
“Thi gì đây?” Mâu Văn vốn hiếu thắng lập tức nhận lời thách đấu.
“Đua ngựa.” Roi ngựa trong tay Tạ Sùng chỉ thẳng về phía trước: “Đến bờ sông.”
“Được thôi.”
“Tiếng chó sủa tiếp theo chính là hiệu lệnh xuất phát của chúng ta.” Tạ Sùng vừa dứt lời, chú chó chăn cừu liền sủa lên một tiếng, ngay lập tức, hai con ngựa đồng loạt lao vút đi!
Gió trên thảo nguyên lồng lộng, ùa vào mũi miệng, len lỏi qua tâm can Tạ Sùng, thổi thốc anh từ trong ra ngoài. Tóc anh dựng ngược cả lên, vạt áo bay phấp phới. Thảo nguyên trong mắt anh lùi lại phía sau, dòng sông lấp lánh đã ở ngay trước mắt!
Anh nghiêng đầu nhìn sang, ngựa của Mâu Văn đang sát rạt bên cạnh. Cô nhìn thẳng về phía trước, chốc chốc lại “hò hét” giục giã, hệt như một người chăn gia súc thực thụ đang thúc ngựa: Chạy nhanh lên!
Những chú ngựa như phát điên, đầy phấn khích, lao về phía trước bất chấp tất cả. Sắp tới bờ sông rồi! Tạ Sùng ghì chặt dây cương, ngựa dừng khựng lại, còn Mâu Văn, cô đã lao thẳng xuống lòng sông.
Nước bắn tung tóe, Tạ Sùng không kịp né tránh, gương mặt đã ướt sũng. Mâu Văn chẳng mảy may bận tâm, thúc ngựa băng qua dòng suối cạn, sang đến bờ bên kia.
Cô xoay đầu ngựa ở bờ bên kia rồi gọi lớn với anh: “Em thắng rồi, anh có phục không?”
Tạ Sùng vừa có một trận cưỡi ngựa thật sảng khoái, anh vẫn còn đang thở dốc, nhưng cũng tâm phục khẩu phục: “Em giỏi lắm.”
Mâu Văn siết dây cương khiến con ngựa xoay vòng hí vang: “So với mấy người trong lớp cưỡi ngựa của anh thì sao?”
“Em có thể coi là đứng trong hàng ngũ xuất sắc nhất.”
“Không phải hạng nhất sao?”
“Quả thực không phải hạng nhất.” Tạ Sùng thành thật đáp. Hạng nhất phải là Tưởng Vu. Tưởng Vu cưỡi ngựa giỏi không chỉ nhờ vào kết quả luyện tập, mà là thiên phú thật sự. Thành tích của Tưởng Vu năm mười hai, mười ba tuổi đã vượt xa các vận động viên chuyên nghiệp, tiếc là cô ấy không thích thi đấu.
“Không phải hạng nhất cũng chẳng sao.” Mâu Văn đáp: “Thắng được anh là được rồi. Dù sao hạng nhất em cũng không gặp được, em cứ làm đại vương trước mặt anh là xong!”
Con ngựa của cô lại băng qua nước quay trở về, đứng bên cạnh Tạ Sùng.
Đàn cừu vừa gặm cỏ vừa di chuyển, hai người dắt ngựa đi theo sau. Bầy cừu bị tụt lại phía sau thì họ lại lên ngựa đuổi theo, rồi lại xuống ngựa tiếp tục đi bộ. Mâu Văn lấy chiếc bình giữ nhiệt từ trong túi đeo chéo nhỏ ra đưa anh uống nước, cô còn chuẩn bị cả bánh sữa cho anh nữa.
“Anh cảm thấy nếu cứ chăn cừu thế này, anh có thể chăn cả đời.” Tạ Sùng nói.
“Tiếc là kỳ nghỉ ngắn quá.” Mâu Văn nói: “Nếu không, em nhất định để anh chơi hết những chỗ hay ho trên thảo nguyên này. Ở đây có nhiều thứ hay ho lắm, chỉ tiếc là xa quá, hiếm có ai tìm đến.”
“Lần sau anh lại đến.” Tạ Sùng nói: “Lần sau sẽ sắp xếp thêm vài ngày.” Anh vừa đi vừa nói: “Thật lạ, hai ngày nay không ai gọi điện thoại cho anh cả.”
Mâu Văn “ừ” một tiếng, tốt bụng nhắc nhở anh: “Có thể là họ đã gọi… nhưng anh không nhận được… sóng ở đây thì biết nói sao đây nhỉ? Gọi điện thoại cơ bản là dựa vào… duyên phận.”
Mâu Văn thấy hơi hổ thẹn. Đã năm 2012 rồi, sóng ở thảo nguyên vẫn còn tệ như thế này.
“Vậy là khách hàng, cấp dưới đều không liên lạc được với anh? Anh đã biến mất hai ngày rồi?” Tạ Sùng hỏi.
“Đúng là như vậy.” Mâu Văn nói: “Dù sao thì trước khi đến, em đã xử lý xong hết công việc rồi.”
“Nhưng em đâu có nhắc anh?”
“Em cứ tưởng công việc của anh là muốn làm thì làm, không muốn làm thì thôi chứ.” Mâu Văn bật cười, lại an ủi anh: “Không sao đâu, tối nay là về tới Nha Khắc Thạch rồi.”
“Nhưng anh còn chưa chơi đã mà!”
Tạ Sùng từng đi qua rất nhiều nơi, từng ngắm nhìn bao nhiêu cảnh sắc, nhưng dù anh có đi đến đâu, nhìn thấy phong cảnh thế nào, anh vẫn luôn giống như một người ngoài cuộc. Anh biết mình không thuộc về nơi đó, cũng biết sớm muộn gì mình cũng phải rời đi, cho nên anh luôn chỉ nhìn ngắm qua loa. Anh ở quê hương Mâu Văn chẳng qua mới được hai ba ngày, vậy mà đã cảm thấy mình không còn là người xứ khác nữa rồi.
Cảm giác hiếm có nhường này, khiến anh chẳng nỡ lòng rời đi.
“Chuyện này thì cũng chẳng còn cách nào khác.” Mâu Văn nói: “Lần nào rời nhà em cũng có cảm giác này, em chẳng muốn đi nơi đất khách quê người, nhưng lại không thể không đi. Tàu vừa chuyển bánh là em bắt đầu khóc, thế nhưng một hai tiếng sau em lại chẳng khóc nữa. Em bắt đầu mơ tưởng về cuộc sống ở trường học, ồ, bây giờ là mơ tưởng về cuộc sống ở Bắc Kinh.”
“Mơ tưởng về tương lai có làm em thấy dễ chịu hơn chút nào không?” Tạ Sùng hỏi.
“Mơ tưởng về tương lai khiến em có thêm sức mạnh.” Mâu Văn đáp.
Buổi chiều dẫn Tạ Sùng đi vắt sữa bò, Tạ Sùng vừa nắm lấy bầu vú bò, đã cảm thấy vô cùng kỳ quặc, anh nhíu mày vắt xuống hai cái, rồi vội vàng buông tay bỏ chạy. Thế nhưng chú bê con thực sự rất thú vị. Bê con chạy đâm sầm tới tấp, trông ngốc nghếch vô cùng. Tạ Sùng chơi cùng lũ bê con rất lâu.
Chập tối, họ phải về lại Nha Khắc Thạch. Chuyến đi này họ không sắp xếp thêm thời gian, sáng sớm ngày hôm sau họ đã phải lái xe trở về Bắc Kinh.
Buổi tối, Cát Vân Thanh cứ mãi loay hoay thu xếp đồ đạc, Mâu Văn ở bên cạnh nhắc nhở bà: “Không nhét nổi đâu mẹ, làm sao có thể nhét hết chừng ấy đồ đạc vào chứ?”
“Cốp xe của các con giờ đã trống rồi, ghế sau cũng trống, đều có thể nhét vào được cả.”
“Nhưng mẹ ơi, cả con cừu nguyên con này, không thể giữ được hai ngày mà không rã đông đâu ạ. Mười mấy tiếng sau là nó rã đông mất, trong xe sẽ toàn là máu đấy ạ.”
Cát Vân Thanh đột nhiên hơi giận: “Mẹ không cần biết, ngày mai lúc con tìm chỗ nghỉ chân thì tìm cái tủ đông mà cấp đông một đêm.” Bà rất ít khi giận Mâu Văn, lúc này nói được vài câu đã chực trào nước mắt. Chẳng hiểu sao, con gái đã rời nhà bao nhiêu lần, chỉ có lần này cảm giác lại khác biệt. Cứ như thể đi rồi sẽ không bao giờ quay về nữa vậy.
Mâu Văn sững sờ trong giây lát, rồi tiến lên ôm lấy bà: “Được rồi, được rồi, con mang đi là được chứ gì. Mẹ còn muốn nhét thêm gì cho con nữa thì cứ nhét hết đi. Được không mẹ?”
Cát Vân Thanh lau nước mắt nói: “Thế còn tạm được.”
Bà nhất quyết bắt mang cả cừu nguyên con, mang thịt bò, mang nấm và rau rừng, đây đều là những báu vật của quê hương họ. Bà tin chắc rằng, dù là ở Bắc Kinh cũng chẳng thể nào ăn được những thứ ngon lành như vậy. Cũng bởi vì Tạ Sùng mang đến quá nhiều đồ đạc, bà muốn dành tặng lại cho anh món quà đáp lễ chân tình nhất mà bà có thể mang ra được.
Suy cho cùng, là sợ Mâu Văn thực sự giống như lời người ta nói: Gả cho một người Bắc Kinh, sau này phải chịu biết bao uất ức không sao kể xiết.
Cát Vân Thanh nghĩ đến đó lại khóc. Lần này bà thực sự đau lòng, tựa hồ như Mâu Văn đã phải chịu nỗi ấm ức nào đó vậy. Bà khóc, Mâu Văn ban đầu còn dỗ dành bà, nhưng rồi chẳng kìm được, cô cũng há miệng “òa” một tiếng, khóc nức nở theo.
Mâu Đức Xương và Tạ Sùng ngồi bên ngoài cửa hàng bánh bao, hai người đang uống nước ngọt, nghe tiếng khóc vẳng ra từ bên trong, Mâu Đức Xương cũng nghẹn ngào.
“Ba biết, nhà mình chẳng thể so sánh với gia đình con được. Ba mẹ là người ở nơi nhỏ bé, còn gia đình con là người Bắc Kinh giàu có.” Mâu Đức Xương vừa lau nước mắt vừa nói: “Nhưng Văn Văn là đứa trẻ mà ba mẹ nâng niu trong lòng bàn tay từ nhỏ đến lớn, những thứ ba mẹ cho con bé có lẽ trong mắt con chẳng là gì cả, nhưng đó thực sự là tất cả những gì tốt nhất mà ba mẹ có thể cho con…”
“Xin con, nhất định đừng để Văn Văn phải chịu ấm ức, ba cảm ơn con.” Mâu Đức Xương vỗ nhẹ lên mu bàn tay Tạ Sùng.
Đôi mắt Tạ Sùng cũng đỏ hoe.
“Em ấy sẽ không phải chịu ấm ức, cũng sẽ không phải chịu khổ.” Tạ Sùng đáp: “Con xin hứa với ba. Nếu con không làm được điều đó, con sẽ không bao giờ đến gặp mọi người nữa.”
Ngày họ rời Nha Khắc Thạch, là một ngày nắng đẹp gió êm. Mùa này chính là lúc Nha Khắc Thạch xinh đẹp nhất. Cây cối ở Đại Hưng An Lĩnh đã xanh mướt một màu, trong rừng đâu đâu cũng là đặc sản quý hiếm; cỏ trên thảo nguyên cũng đã xanh ngát, vạn vật đang độ sinh sôi.
Mâu Văn lại một lần nữa rời xa quê hương, đến nơi mà người dân quê cô vẫn gọi là “chốn thiên đường”. Quê hương dần khuất xa trong gương chiếu hậu, cô biết mẹ nói rất đúng: Một khi đã an cư lạc nghiệp ở một nơi xa lạ, cô sẽ rất khó để có thể trở về quê hương nữa.
Những chú cừu nhỏ và chó chăn cừu trên đồng cỏ, những đám mây trắng soi bóng xuống dòng sông cùng ánh chớp trong đêm mưa, những chú ngựa trắng thỏa sức phi nước đại và những thân cây cổ thụ ngàn năm, tất cả những điều ấy rồi sẽ lùi xa. Ngay cả cô và cha mẹ yêu thương nhất, cũng là gặp nhau một lần thì bớt đi một lần.
Nghĩ đến đó, Mâu Văn rốt cuộc không kìm lòng được mà bật khóc thành tiếng.
