Chương 45: Nỗi bi thương ly loạn (2)
*
Ngoại ô huyện Thị Dương.
Sơn dã đầu tháng Sáu xanh tươi mơn mởn, hơi nóng còn chưa lan tỏa, nhưng những cành lá xum xuê như một vệt xanh thẫm đã đổ tràn vào đầy lòng.
Tiếng vó ngựa lộc cộc vang lên, Lư Hội phi ngựa chạy đến.
Một gã đàn ông trung niên gương mặt đầy vẻ tinh anh, rắn rỏi chắp tay thưa: “Nương tử, lại chết một người rồi.”
Tầm mắt của cô đổ dồn xuống đất, dọc theo bờ sông là thi thể một gã đàn ông ăn vận như dân thường đang nằm thẳng đơ.
Cô sa sầm nét mặt hỏi: “Vẫn là tự vận sao?”
Gã đàn ông trung niên đáp: “Vâng, thị vệ của Bùi phủ vừa mới bắt giữ hắn, hắn liền uống độc tự tử.”
Nghĩ đến mọi chuyện xảy ra trong chớp nhoáng vừa rồi, gã không khỏi nhe răng cảm thán: “Đây đã là kẻ thứ tư rồi. Nương tử, đây chính là tử sĩ trong lời đồn đại đấy phải không? Trước kia chúng ta cứ ngỡ là trong tuồng chèo thêu dệt nên, làm gì có ai đến mạng sống cũng chẳng màng, bảo chết là chết ngay, nay mới được tận mắt chứng kiến hàng thật.”
Lư Hội lẩm bẩm tự nói: “Phải đấy, lòng người nơi này quả thực còn tàn nhẫn độc địa hơn Sa Châu nhiều.”
Đàm Tử Liệt cùng một toán thị vệ lục soát xong xác chết, dắt dây cương tiến lên phía trước: “Hội nương tử, đã lục soát xong rồi, trên người cái xác không có vật gì cả. Ty chức sẽ phái người áp tống thi thể đến huyện nha sở tại.”
Cô liền hỏi: “Chẳng phát hiện được chút manh mối nào sao?”
Đàm Tử Liệt lắc đầu: “Khoảng bờ sông thượng nguồn này đã lùng sục suốt sáu bảy ngày nay, đến cả các bụi rậm cũng lật tung từng mảnh lên xem rồi, thực sự không tìm được thứ gì hữu dụng.”
Lư Hội không giấu nổi vẻ thất vọng: “Ngụy Quốc phu nhân phái người giúp ta tìm kiếm ở hạ lưu, nhưng cũng hoàn toàn không có kết quả.”
Đàm Tử Liệt tiến lên một bước: “Hội nương tử, mắt thấy mặt trời lại sắp xuống núi rồi, chúng ta lui về thôi.”
Cô nhìn quanh bốn bề xanh ngắt, men theo dòng sông dưới chân ngước mắt nhìn lên. Một dải lụa bạc lúc rộng lúc hẹp ngoằn ngoèo uốn lượn bò lên sườn dốc, lượn qua cổng lớn Trang Lư ở lưng chừng núi rồi dẫn ra tận sau núi.
“Ta muốn về trang viện xem thử.” Cô đột nhiên nói.
–
Khung cảnh bừa bãi và xác chết đầy đất đều đã được dọn dẹp sạch sẽ, không còn những tiếng cười đùa rộn rã đan xen tiếng địa phương Sa Châu nữa, chỉ còn vệt màu đỏ thẫm còn sót lại trên bậc thềm đá như đang nhắc nhở nơi sơn trang này từng xảy ra biến cố gì.
Lư Hội thuận theo dòng suối vòng ra sau núi, mãi cho đến khi đi tới một đầm sen vắng lặng, mười ngày trước, Lâm Mạt Tử chính là ở chỗ này chia tay với nhóm người Y Lam. Cô bỗng lên tiếng: “Vương Ngũ huynh, nếu ta không tìm lại được cha mẹ thì phải làm sao đây?”
Gã đàn ông trung niên rắn rỏi cười xòa một tiếng: “Thế thì sau này bọn tiểu nhân sẽ gọi nương tử là Đông chủ thôi. Vào tiệc sinh thần năm nương tử mười ba tuổi, Đông chủ và phu nhân đã dặn dò bọn tiểu nhân như vậy rồi.”
Lư Hội nhìn dòng suối chầm chậm trôi xuôi, mặt nước soi bóng gương mặt mệt mỏi đến đờ đẫn của cô. Cô lẩm bẩm: “… Có chuyện này thật sao? Sao ta lại chẳng nhớ gì nhỉ.”
Vương Ngũ cười nói: “Năm ấy ở trên yến tiệc, Đông chủ bảo nương tử đã lớn rồi, có thể học uống rượu được rồi, phu nhân mới gượng gạo gật đầu. Học uống rượu vốn dĩ phải bắt đầu từ rượu nhạt, ai ngờ Y Lam tính khí hấp tấp, vừa lên đã rót ngay rượu mạnh cho nương tử. Nương tử uống hết một bát liền say khướt chẳng biết trời đất gì nữa, chỉ biết cười ngây ngô, cô ấy đành phải cõng nương tử về phòng trước.”
Quá khứ ấy nghe sao mà êm đềm tốt đẹp làm vậy, cha, mẹ, Y Lam, A Ô Nhĩ, tất thảy mọi người đều đông đủ. Ngay cả bận Lư Trí Nam bị đám khốc lại hãm hại tống vào ngục, Tạ Ngọc Phù quyết đánh cược một phen, định bụng để các con trốn về Sa Châu trước nương nhờ Trương Tuấn, thì ít nhất bấy giờ Y Lam vẫn còn ở bên cạnh cô.
Mà giờ đây, cô thực sự đã cô độc một mình rồi.
— Hốc mắt Lư Hội nóng lên, cô cúi gằm đầu để không ai nhìn thấy những giọt lệ đang chực trào rơi xuống.
Vương Ngũ thở dài thườn thượt, cố gắng khuyên giải: “Đông chủ từng bảo, đi thuyền rong ngựa kiếm miếng ăn, làm gì có chuyện không gặp hiểm nguy tai ương. Nay chúng ta đã gầy dựng được gia nghiệp lớn thế này, sớm đã đủ vốn rồi. Nương tử phải học cách nghĩ thoáng ra một chút, người sống trên đời làm sao vẹn toàn được mọi bề, Đông chủ và phu nhân có số được an hưởng tuổi già thì dĩ nhiên là tốt, nhược bằng không có, nương tử cũng đừng quá…”
Lư Hội chợt cắt ngang: “Ta nhớ hôm kia ở đây có mưa đúng không?”
Vương Ngũ ngẩn người ra một chốc, liền đáp: “Phải ạ, một trận mưa rào ra trò, mưa mãi tới trưa hôm qua mới tạnh. Nương tử chẳng chịu dừng việc tìm kiếm, cứ khăng khăng mặc áo tơi để ra ngoài đấy thôi.”
“Mấy ngày trước khi lũ tặc khấu xông vào trang viện, có phải trời cũng đổ mưa không?” Trong mắt Lư Hội lóe lên một tia sáng kỳ dị.
Vương Ngũ nhất thời nghẹn lời: “… Tiểu nhân đi tìm mấy người dân bản xứ hỏi chuyện ngay đây.”
–
Bùi phủ, Mộc Hương Trai.
Bùi Thứ Chi đẩy cánh cửa sổ ra, một làn gió mát trong lành gột rửa lòng người theo đà ùa vào thư trai.
Chàng chân thành cảm thán: “Đúng là ngọn gió lành, cũng nhờ có trận mưa rào xối xả hôm kia đã quét sạch hết thảy vẻ bực dọc, oi bức đi rồi.”
Trương Hán Dương sải bước đi tới, “bạch” một tiếng đóng sầm cửa sổ lại, lạnh lùng bảo: “Cậu không biết tai vách mạch rừng hay sao?”
Bùi Thứ Chi cười khổ: “Bùi phủ tuy chẳng phải đồng tường vách sắt, song cũng không tới mức trống hoác như cái nia rách thế đâu. Hai vị tướng công bán tín bán nghi như vậy, lại hà cớ gì phải đến tìm vãn bối làm chi.”
Thôi Thăng phân trần: “Việc này liên quan đại cục, cẩn tắc vô ưu, cẩn thận chút vẫn hơn.”
Bùi Thứ Chi bước tới trước hương án, châm lại một lư hương trầm: “Tình thế đã khẩn cấp đến mức này rồi sao?”
Trương Hán Dương sa sầm mặt mũi: “Anh em Kim thị hãm hại Ty Lễ thừa Giản Phụng Minh cùng Phượng Các xá nhân Vệ Ám, rõ ràng chứng cứ rành rành, Nữ hoàng chẳng những không trừng trị chúng, ngược lại còn đem cả hai vị đại nhân người bị hại lẫn Trương Thị lang đứng ra làm chứng đồng loạt bãi chức, đày ải khỏi Thần Đô, thiên lý ở đâu cơ chứ!”
Bùi Thứ Chi thản nhiên nói: “Anh em Kim thị trọng dụng phương sĩ giang hồ, yêu ngôn hoặc chúng, Diêu Nguyên Hiếu liều chết đàn hạch, chẳng phải cũng chứng cứ rành rành đó sao? Thiên hạ đều đồn hai tên họ Kim kia có tướng đoạt rồng, Nữ hoàng vẫn cứ ngó lơ không xử lý bọn họ, lại còn đày Diêu Nguyên Hiếu ra biên ải xa xôi. Thánh ý đã vậy, chúng ta có thể làm gì được đây.”
Chàng đặt nắp lư hương xuống, tiếng “cạch” thanh âm nghe có phần chói tai: “Hai vị tướng công ngày hôm nay nếu như đến đây để cùng vãn bối đàm luận về thiên lý, vậy thì vãn bối xin phép không tiếp chuyện nữa.”
Thấy chàng có ý định rời đi, Thôi Thăng vội vàng kéo chàng lại: “Nhược Trạm bớt nóng, nghe lão phu nói một lời. Nữ hoàng những năm cuối đời sủng ái tin dùng lũ gian nịnh, triều đình dần đánh mất cương kỷ, dẫn đến quan trường bại hoại, trăm họ hoang mang lo sợ. Nhược Trạm thân là đại thần rường cột, bụng đầy kinh luân sách vở thánh hiền, tuổi trẻ tài cao, chức trọng quyền sâu, chính tích lẫy lừng, hiền danh vang xa, nay sao có thể khoanh tay đứng nhìn cho đành?”
Bùi Thứ Chi nhướn mày: “Thôi lão quá khen rồi, Trương tướng công đã cài cắm tâm phúc tri kỷ vào trong Tả Hữu Vũ Lâm vệ, nhìn qua đại sự sắp thành đến nơi, xem ra chẳng cần đến vãn bối nhúng tay vào nữa đâu nhỉ.”
Lời này vừa thốt ra, Thôi Thăng kinh hãi khôn cùng, ngoảnh đầu lại nhìn Trương Hán Dương trân trân, trong lòng đôi bên đều dậy lên ý nghĩ: “Không ngờ chuyện này lại bị cậu ta biết được rồi”.
Trương Hán Dương đột ngột đứng bật dậy: “Không sai, ta và chí hữu năm xưa đã lập chí lớn: ‘Ngày sau nếu nắm được đại quyền, tất sẽ chung tay khôi phục giang sơn Lệ Tĩnh, không để huyết mạch của Văn Đức Hoàng đế tiếp tục bị Chử thị tàn hại’! Chẳng lẽ Bùi Thiếu tướng lại muốn phản đối chúng ta?”
Bùi Thứ Chi chỉ chờ có câu này, chàng mỉm cười nói: “Vẫn cứ là Trương tướng công thẳng thắn sảng khoái, Thôi lão ở lâu nơi trung khu Thần Đô, đâm ra ngày càng câu nệ rồi. Hai vị mời ngồi, mời ngồi.”
Hai người Thôi, Trương thấy vẻ mặt chàng ôn hòa, cũng hơi yên tâm phần nào.
Bùi Thứ Chi giọng điệu vô cùng chân thành: “Hai vị tướng công ôm chí lớn khuông chính thiên hạ, không nỡ nhìn cơ nghiệp tổ tiên ngày một sa sút, chẳng vì sự tiến lui của bản thân mà quên đi trọng trách với thiên hạ. So với cao phong lượng tiết của hai vị, vãn bối quả thực vô cùng hổ thẹn.”
Lư Hội từng nói, vị cậu giả này một khi đã muốn thì nói lời hay ý đẹp cứ gọi là trôi chảy bài bản từng tràng dài.
Bùi Thứ Chi trong lòng có mưu đồ, thế là một lát lại ví von với các bậc trung thần thượng cổ lòng son dạ sắt, một lát lại nhắc đến chuyện được vạn người kính ngưỡng, chấn động đương thời, lưu danh sử sách, lời lẽ chân tình, chữ chữ như châu như ngọc, nịnh hót hai người Thôi, Trương đến mức sướng rơn cả người.
Sau đó, chàng chuyển biến giọng điệu: “Thế nhưng, vãn bối không giống với các vị tướng công, vãn bối mười bốn tuổi đã bước vào quan trường, hoàn toàn do một tay Nữ hoàng đề bạt. Một người có trải nghiệm như vãn bối mà suốt ngày mở miệng ra là ơn nghĩa tiền triều thì khó tránh khỏi chuốc lấy tiếng cười chê của người đời. Bất dĩ, vãn bối chỉ có thể giống như đại nhân Diêu Nguyên Hiếu, mắt nhắm mắt mở làm ngơ mà thôi.”
Ý trong lời nói chính là, mấy ông già các người có thể niệm tình cũ, chứ tính từ ngày chàng tham gia thi cử, thiên hạ này đã mang họ Chử rồi, chàng chưa từng được tắm đẫm ân trạch tiền triều lấy một ngày, thì hoài niệm cái nỗi gì.
Diêu Nguyên Hiếu cũng tương tự như vậy, Nữ hoàng không biết đã có bao nhiêu cơ hội để lấy mạng ông ta, nhưng sau cùng vì tiếc tài nên mới tha cho ông ta một con đường sống. Mối ơn tri ngộ này ông ta chẳng thể báo đáp, nên cuộc mưu tính ngầm của các người ông ta cứ xem như không biết gì.
Trương Hán Dương hừ lạnh: “Nói tới nói lui, chẳng qua vẫn là muốn khoanh tay đứng nhìn. Vừa không phải mạo hiểm, sau này lại vẫn có thể tiếp tục ngồi vững trên ngôi cao.”
Bùi Thứ Chi nói: “Vãn bối xin nói thật lòng với Trương tướng công, đợi sau khi đại sự thành công, vãn bối sẽ lập tức từ quan về hưu, rút khỏi Chính Sự Đường, tuyệt đối không tiếp tục lưu lại chốn triều đình.”
Thôi Thăng kinh hãi: “Cớ gì phải khổ như vậy?”
Xét theo xuất thân, tài năng cùng với tư lịch của Bùi Thứ Chi, tiền đồ sau này của chàng quả thực không thể đo lường nổi. Vậy mà chàng lại muốn rút lui khỏi quan trường sao?
Bùi Thứ Chi gượng cười: “Đại nhân Diêu Nguyên Hiếu không đành lòng tham gia vào đại nghiệp khôi phục của các vị tướng công, vãn bối há chẳng phải cũng như vậy sao. Tương lai, tộc Bùi ở Hà Đông sẽ có nhân tài kiệt xuất khác vào triều làm quan, đến lúc đó kính xin hai vị tướng công nâng đỡ chăm sóc nhiều hơn.”
Nét mặt Trương Hán Dương hơi dịu lại chút ít: “Thiếu tướng khảng khái lỗi lạc, khiến người ta phải kính phục. Có điều Nhược Trạm dù sao vẫn còn trẻ tuổi, cho dù có làm dã hạc mây ngàn khoảng hai ba mươi năm thì bấy giờ vẫn đương độ sung sức.”
Thôi Thăng thầm chửi lão già họ Trương này thật là hiểm độc, mở miệng ra là bắt một đứa con cháu thế gia có tiền đồ xán lạn phải ngồi chơi xơi nước tận hai ba mươi năm, công lao phò tá rồng còn chưa thấy tăm hơi đâu mà đã bắt đầu tính toán cho tương lai rồi.
Trương Hán Dương nói: “Thiếu tướng đã quyết ý như thế, chúng ta cũng không miễn cưỡng. Có điều lâu nay nghe danh Thiếu tướng giỏi về mưu lược, đại cục hiện nay chúng ta muốn thỉnh giáo đôi điều.”
Bùi Thứ Chi chờ đợi bấy lâu, cuối cùng cũng vòng được vào trọng điểm: “Đạo lý có phân định rõ ràng đến mấy thì Bệ hạ trước sau gì cũng chẳng lọt tai, không chịu trừng trị hai tên họ Kim kia. Xem ra, cuối cùng vẫn phải dùng đến vũ lực để định phân hơn thua mà thôi.”
Mắt Trương Hán Dương sáng rực lên, rướn người tới gần: “Ý của Thiếu tướng là…?”
Bùi Thứ Chi đặt một khay trà xuống trước mặt hai vị tướng công, trên khay có sáu chiếc chén trà nhỏ: “Tả Hữu Vũ Lâm vệ đồn trú bảo vệ cấm đình tổng cộng có sáu vị tướng quân gồm hai chính bốn phó, Trương tướng công hao tổn bao công sức cũng mới chỉ thay được một vị phó tướng thành người của mình.”
Chàng úp ngược một chiếc chén trà xuống bàn: “Chỉ có một vị phó tướng là người mình, như vậy hoàn toàn không đủ.”
Thôi Thăng thở dài: “Chúng ta đâu phải không biết, nhưng nếu muốn thay thêm vài người nữa thì Bệ hạ vạn lần không chịu ưng thuận đâu.”
Bùi Thứ Chi lại gạt ra ba chiếc chén trà, lần lượt lật ngửa chúng lên: “Không cần phải thay người nữa, bởi vì trong sáu người này, có ba vị vốn dĩ là vây cánh của Chử thị, do Lương Vương năm xưa lúc sinh tiền tiến cử lên. Hiện giờ Lương Vương đã khuất, vãn bối nguyện phái người âm thầm liên lạc với Vận Vương, nhờ ngài ấy ở giữa chu toàn hòa giải, nghĩ bụng có thể lôi kéo được ba người này.”
Trương Hán Dương nhíu mày: “Vận Vương dẫu sao cũng mang họ Chử, ngài ấy liệu có bằng lòng bắt tay với chúng ta không?”
Bùi Thứ Chi cười như không cười: “Sau cái chết của Thục Vân Quận chúa, Vận Vương phủ ra sức phấn đấu, hiện giờ đang sốt sắng vun vén cho Trường Mậu Quận chúa và Chử Khánh Tú. Vận Vương e rằng còn mong Thái tử lên ngôi hơn cả ông và ta cộng lại.”
Thôi Thăng tán thưởng kịch liệt: “Được như vậy thì Nhược Trạm quả là lập được đại công một phen!”
“Vãn bối có công lao gì đâu, chẳng qua chỉ là khua môi múa mép mà thôi.” Bùi Thứ Chi xua xua tay, lại gạt ra một chiếc chén trà nữa, “Như vậy là chúng ta đã nắm chắc bốn người rồi. Tiếp theo đây xin mời Thôi tướng công dâng tấu kiến nghị với Nữ hoàng, trong Tả Hữu Vũ Lâm vệ nên có một vị tướng lĩnh thuộc về Đông Cung.”
“Bệ hạ muốn chuyện sau khi băng hà được yên ổn, thì Đông Cung buộc phải vững vàng. Nay Đông Cung trong tay không một tấc sắt nương tựa, vạn nhất xảy ra biến cố gì, há chẳng phải như cừu non khoanh tay chờ chết sao. Theo cái nhìn của vãn bối, Nữ hoàng đa phần sẽ chuẩn tấu.”
“Tốt, tốt quá, Nhược Trạm quả nhiên thần cơ diệu toán!” Thôi Thăng mừng rỡ ra mặt. Chẳng trách Nữ hoàng lại ưa thích phái Bùi Thứ Chi đi lo liệu công việc và thu dọn tàn cuộc, người này thật sự là quá đỗi đắc lực.
Trương Hán Dương đăm đăm nhìn vào chiếc chén trà cuối cùng: “Hiện tại, chỉ còn sót lại Tả Vũ Lâm Đại tướng quân Lệ Diên Thọ thôi.”
Thôi Thăng tức thì thu lại nụ cười: “Người này thống lĩnh cấm vệ suốt bốn mươi năm qua, được Nữ hoàng tin tưởng sâu sắc. Làm cách nào để phế truất thay thế ông ta, quả là một bài toán nan giải.”
Bùi Thứ Chi bật cười: “Thôi lão đừng nằm mơ giữa ban ngày nữa. Lệ Diên Thọ cùng Nữ hoàng đồng lòng đồng đức suốt bốn mươi năm trời, Bệ hạ cho dù có thay đổi thái tử đi chăng nữa, cũng quyết không thay thế ông ta đâu.”
Nét mặt Thôi Thăng vô cùng nặng nề: “Lệ Diên Thọ có uy tín tích lũy cực kỳ sâu dày trong hàng ngũ cấm vệ, chỉ cần ông ta không gật đầu, đại sự tất không thể thành.”
Trương Hán Dương nghiến răng nghiến lợi thốt lên: “Hay là trừ khử luôn kẻ này đi!”
Bùi Thứ Chi cạn lời: “Lệ Diên Thọ là người đứng đầu Tả Hữu Vũ Lâm vệ, nếu ông ta bị ám sát bỏ mạng, thì ngay cả kẻ ngu ngốc nhất trên đời cũng biết sắp sửa có đại biến xảy ra.”
Thôi Thăng ướm lời dò hỏi: “Theo ý của Nhược Trạm thì…”
Bùi Thứ Chi ngắn gọn đáp: “Lôi kéo ông ta.”
Thôi Thăng bật cười ngao ngán: “Chính Nhược Trạm cũng nói Lệ Diên Thọ chịu ân sủng hoàng gia sâu dày, mấy chục năm qua quân thần hết lòng tin tưởng nhau, chúng ta làm sao có thể lôi kéo ông ta được?”
Nét mặt Bùi Thứ Chi thờ ơ: “Nếu Bệ hạ vẫn khỏe mạnh bình an, thì dẫu có hái cả vầng trăng dâng đến tận cửa, cũng chẳng thể mua chuộc được Lệ Diên Thọ. Thế nhưng hiện giờ Bệ hạ bệnh tật ốm yếu, đâu chỉ các vị tướng công lo lắng, Lệ Diên Thọ e rằng cũng thức trắng thâu đêm. Ông ta vốn là xuất thân hồ tướng, ở trong triều không gốc không rễ, một đời thiên tử một đời thần, há lại không biết tính toán cho tương lai sao?”
Thôi Thăng ngẫm nghĩ kỹ càng: “Nhược Trạm nói rất có lý, ngày mai ta sẽ gửi thiếp mời, bày tiệc mời Lệ Diên Thọ đến phủ gặp mặt trò chuyện.”
Bùi Thứ Chi cười nói: “Đừng vội, Thôi lão ngài bụng đầy kinh thư thi họa, e là nói chuyện không hợp gu với Lệ Diên Thọ đâu. Trương tướng công lâu năm tôi luyện ở địa phương, kiến thức sâu rộng, lại khảng khái hào sảng, việc này vẫn phải do ngài xuất mã.”
Để Thôi Thăng đi dông dài với Lệ Diên Thọ thì không mất mười ngày nửa tháng cũng chẳng đi đến đâu, còn Trương Hán Dương tính tình bộc trực mạnh mẽ gừng già càng cay, để ông ta đi thuyết phục Lệ Diên Thọ, ước chừng vài ngày là có thể khởi sự rồi.
Thôi Thăng ngẫm nghĩ: “Nói cũng phải.” Ông ta vốn xuất thân từ Thôi thị Bác Lăng, vốn dĩ cũng chẳng mấy coi trọng Lệ Diên Thọ.
Trương Hán Dương vuốt râu cười lớn, vô cùng đắc ý: “Tại hạ nghĩa bất dung từ! Chỉ cần lôi kéo được Lệ Diên Thọ, nắm quyền khống chế Tả Hữu Vũ Lâm vệ, thì các quân các bộ thuộc Nam Bắc nha còn lại đều dễ bề xử lý.”
Đúng lúc này, Đàm Tử Liệt lặng lẽ xuất hiện bên cửa, ghé sát vào tai Bùi Thứ Chi thì thầm: “Nữ lang về rồi, xem chừng không được ổn lắm.”
Nói xong liền lách người rời đi.
Bùi Thứ Chi khẽ nhíu mày, sắc mặt lạnh nhạt: “Vãn bối khuyên hai vị tướng công vẫn nên nhanh chóng hành động.” Chàng nôn nóng muốn đi gặp Lư Hội, giọng điệu liền không còn vẻ thong thả như vừa rồi nữa.
Thôi Thăng không hiểu: “Đây là cớ làm sao?”
Bùi Thứ Chi giải thích: “Hai tên Kim thị kia không phải hạng người như tên Tiết hòa thượng, cha ông của chúng cũng từng làm quan, chẳng qua do gia đạo sa sút nên mới đi vào con đường nịnh hót bợ đỡ. Nhà bọn chúng có thừa người thân bạn cũ, mánh khóe trên quan trường chúng cũng am tường, mới vỏn vẹn năm tháng ngắn ngủi mà đã biết bao triều thần đến nương nhờ đầu quân cho chúng rồi. Nếu để lâu ngày, thắng bại ra sao thật khó lòng lường trước.”
Trương Hán Dương khinh bỉ cười một tiếng: “Hạng nịnh thần bợ đỡ, lũ gian nịnh ô hợp, thì làm nên trò trống gì!”
Bùi Thứ Chi nhìn ông ta: “Dám hỏi Trương tướng công, các vị bá quan tướng lĩnh thường xuyên mấy tháng trời không được diện kiến Bệ hạ lấy một lần, vạn nhất xảy ra chuyện sơn lăng băng, hai tên họ Kim kia chìa ra một tờ di chiếu, các người rốt cuộc là tuân theo hay không tuân theo?”
Thôi Thăng bỗng đứng phắt dậy: “Chẳng lẽ hai tên tặc tử kia dám giả mạo di chiếu, thay đổi thái tử?”
Trương Hán Dương đại nộ: “Hạng tặc khấu trộm nước này, ai ai cũng có quyền tru diệt, kẻ nào dám phụ họa theo chúng!”
Trong mắt Bùi Thứ Chi lộ vẻ giễu cợt: “Thứ nhất, chưa chắc đã là di chiếu giả. Thứ hai, cha con Lạc Xuyên Vương cũng là huyết mạch của Văn Đức Hoàng đế, chưa hẳn không có người ủng hộ. Hai tên họ Kim có thâm thù đại hận với Đông Cung, nhưng với Lạc Xuyên Vương phủ thì chẳng có hiềm khích gì. Các vị tướng công một lòng hướng về Đông Cung, giao tình với Lạc Xuyên Vương phủ lại vô cùng thưa thớt, không thể không đề phòng.”
Lời này quả thực là lời lẽ đâm trúng tim đen, ẩn chứa thâm ý sâu xa trong đó khiến sắc mặt hai người Thôi, Trương lập tức đại biến.
“Tóm lại, vẫn cứ là phải nhanh, chậm trễ tất sinh biến.” Nói xong câu này, Bùi Thứ Chi bưng chén trà lên, “Đêm đã khuất rồi, sắp sửa tới giờ giới nghiêm, vãn bối xin phép không giữ khách lại nữa.”
Lộc Dã Đường, nội tẩm.
Lư Hội ngồi cô độc một mình trong căn phòng tối om om.
Bùi Thứ Chi tay cầm cây nến bước vào, cười nói: “Sao lại không thắp đèn lên?”
Lư Hội nhìn chàng lần lượt thắp sáng từng đài đèn trong phòng, khẽ nói: “… Ta nhìn thấy hai vị tướng công Thôi, Trương rồi, bọn họ cố ý ngồi một cỗ xe mui bạt bằng vải thô, đi vào phủ từ cửa nách.”
Bao ngày lo âu, nơm nớp, sợ hãi cùng với bôn ba bận rộn khiến cho xương hàm trên gương mặt vốn bầu bĩnh của cô bỗng chốc trở nên góc cạnh rõ nét, đôi nhãn mâu đen thẳm hơi hốc hác trũng sâu, góc nghiêng thanh lãnh diễm lệ, tựa như một thanh ngọc nhận thượng cổ được vớt lên từ vực sâu thăm thẳm, trông thì tinh khiết nhu hòa, song cạnh rìa lại vô cùng sắc bén.
Giọng điệu Bùi Thứ Chi ôn nhu: “Bệ hạ nhiều ngày nằm bệnh không dậy nổi, trong thành Thần Đô lòng người hoang mang lo sợ, hai vị tướng công khó tránh khỏi phải cẩn thận dè dặt một chút.”
Lư Hội hỏi: “Hôm kia ta còn nhìn thấy người của Lạc Xuyên Vương phủ, là ai đến tìm chàng vậy? Lạc Xuyên Vương hay là Thế tử Kính Tuyên?”
Động tác của Bùi Thứ Chi khựng lại một nhịp, chàng mỉm cười hỏi: “Hôm nay tìm kiếm có thu hoạch gì không? Nghe nói lại chết một người rồi?”
Lư Hội im lặng.
“Đến ngày thứ hai tìm kiếm, ta đã phát hiện ra có người âm thầm dòm ngó chúng ta ở trong bóng tối.” Cô có phần hoang mang vô định, “Bọn họ ẩn nấp sau thân cây, giữa các kẽ đá, trong ruộng lúa ruộng ngô, ăn vận cử chỉ chẳng khác gì dân chúng bình thường, chỉ lẳng lặng bám theo chúng ta, xem chúng ta lùng sục đến bờ cõi nào rồi. Ta không thể bắt bớ hết thảy bách tính xung quanh về đây tra hỏi thẩm vấn, chỉ đành cẩn mật đề phòng. Tử Liệt chật vật mãi mới phát hiện được sơ hở của mấy tên trong số đó, vừa mới bắt sống được thì bọn họ liền lập tức tự tận ngay tại chỗ.”
Bùi Thứ Chi nói: “Nói như vậy thì cha mẹ nàng vẫn chưa rơi vào tay đối phương, bằng không lúc này bọn họ đã ra giá điều kiện rồi, chứ chẳng cần phải lén lút rình rập hành tung của nàng làm gì.”
Lư Hội ý chí sa sút: “Dẫu cho chưa rơi vào tay giặc khấu, thì tình cảnh của họ cũng chẳng lành, nếu không đã sớm quay về tìm ta rồi.”
“Đừng tự dọa dẫm mình như thế.” Bùi Thứ Chi ngồi xuống bên cạnh cô, dịu dàng an ủi, “Mấy ngày qua các người lùng sục khắp hai bên bờ sông, cũng đâu có thấy xác người nào.”
Lư Hội lắc đầu: “E là chúng ta lùng sục sai hướng rồi, Y Lam đưa cha mẹ ta đi không đi theo con đường dọc con suối đâu.”
Bùi Thứ Chi hơi kinh ngạc: “Lâm Mạt Tử chẳng phải đã nói…?”
Lư Hội tiếp tục lắc đầu: “Những chuyện xảy ra sau khi Mạt Tử nấp vào đầm sen, có lẽ chính cô ấy cũng không rõ, độ giao mùa xuân hạ, cây cỏ sau núi nhà ta mọc lên vô cùng tươi tốt mơn mởn, ngày thường trên con suối nhỏ kia lúc nào cũng lững lờ lá rụng, hoa cỏ, bèo tấm, thi thoảng còn có những vệt tảo nước lớn.”
“Ta và Y Lam khi câu cá bên bờ suối, thường xuyên chẳng nhìn rõ khúc nước nào dưới đáy có nhiều cá hơn, thế nên Y Lam mới định bụng rạp người bò dưới lòng suối để trốn ra ngoài.”
“Thế nhưng nếu trời đổ một trận mưa rào, rồi hửng nắng lên một hai ngày, nước suối sẽ trở nên trong vắt vô cùng. Bởi vì hoa lá bèo cỏ nổi trên mặt nước đều đã bị mưa lớn cuốn trôi đi sạch, còn bùn cát cuộn lên cũng lắng xuống đáy sâu. Ta đã hỏi han lão nông dưới chân núi, hai ngày trước khi bọn giặc khấu xông vào trang viện, Thị Dương vừa vặn đổ một trận mưa lớn, mưa ròng rã suốt một ngày trời…”
“Ta đoán, ngày hôm đó sau khi Mạt Tử đưa A Kỷ, A Ỷ trốn vào đầm sen, Y Lam vốn định hành sự theo kế hoạch cũ, nhưng nàng bỗng nhiên phát hiện nước suối trong vắt nhìn thấy tận đáy. Đừng nói là ba con người bằng xương bằng thịt, đến cả tôm cá lội dưới nước cũng hiển hiện mồn một trước mắt. Trừ phi lũ giặc khấu kia thảy đều là quân mù lòa, bằng không họ nhảy xuống suối chẳng khác nào tự chui đầu vào lưới.”
“Ta hiểu rõ Y Lam, tỷ ấy tuyệt đối không phải hạng người bảo thủ cứng nhắc, tỷ ấy nhất định đã tìm phương kế khác rồi.”
Bùi Thứ Chi chầm chậm hạ chao đèn cung đình xuống, gương mặt thanh tú nửa sáng nửa tối phía sau chiếc chao đèn màu ngọc thạch: “Theo nàng thấy, vậy họ đã trốn đi ngả nào?”
Lư Hội mông lung đáp: “Ta không biết. Có thể là vách đá dựng đứng ở phía bắc, có lẽ là thác nước ở phía đông bắc, hoặc cũng có thể là sườn dốc đất nơi vách núi phía tây bắc lệch tây. Cho dù họ có xuống núi, ba bốn phương hướng đó phân biệt dẫn tới các châu huyện khác nhau, sơn lâm sông ngòi mỗi nơi mỗi khác. Mò kim đáy bể, rốt cuộc phải tìm thế nào, ta không biết nữa…” Nói đến cuối cùng, cô nghẹn ngào không thốt nên lời.
Bùi Thứ Chi ngồi xuống bên cạnh cô, nhẹ nhàng ôm cô vào lòng: “Ta phái thêm nhân thủ cho nàng, lại bảo quan phủ nha môn các nơi cùng giúp nàng tìm người…”
Lư Hội nước mắt lưng tròng lắc đầu: “Mấy ngày trước ta bảo người của Nam Nha Thập Lục Vệ đi gõ cửa từng nhà lục soát, chẳng tìm thấy một chút vết tích nào, ngược lại còn quấy nhiễu dân chúng ra trò. Ngày thường bọn họ càn quấy ở Thần Đô đã quen, toàn làm trò trộm cắp vặt, tống tiền ăn vạ, lại còn động tay động chân với nữ quyến, ta đã đuổi cổ bọn họ về hết rồi. Bệ hạ và Đoan Mộc đại nhân nói không sai, chuyện thế này quan binh chẳng được tích sự gì lớn.”
Bùi Thứ Chi bị tiếng khóc của cô làm cho lòng dạ rối bời, chàng ôm lấy eo cô ghì chặt vào lòng: “Nàng đừng khóc nữa, đừng khóc nữa, nàng muốn ta làm gì? Nàng nói đi, nói ra đi.”
Lư Hội đẩy cánh tay của chàng ra, nhìn đăm đăm vào mắt chàng: “Thiết Lặc đi đâu rồi?”
Bùi Thứ Chi sửng sốt.
Lư Hội chầm chậm đứng dậy: “Lần đi U Châu cứu Trần Lan Nhược ấy, đám giáp sĩ chàng mang theo người nào người nấy thân thủ nhanh nhẹn, kỷ luật nghiêm minh, là do trong quân đội huấn luyện ra đúng không. Bọn họ đã cố sức giữ im lặng, nhưng bôn ba dặm trường suốt mười mấy ngày trời, rốt cuộc vẫn để lộ ra vài câu nửa lời. Ta nghe thấy, hình như là giọng vùng Lương Châu.”
Ánh mắt của thiếu nữ trong trẻo lạnh lùng đến đáng sợ, tựa như lưỡi đao bạc đâm toác lớp băng: “Bùi thị Hà Đông các chàng, cớ sao lại có một toán tử sĩ tâm phúc xuất thân từ vùng Tây Bắc?”
Bùi Thứ Chi khẽ nhếch môi: “Nàng chẳng lẽ lại nghĩ là ta phái người thảm sát Trang Lư đấy chứ.”
Lư Hội tiếp tục nói: “Hồi ở Vô Danh sơn trang, ta nghe giọng điệu ra lệnh của Thiết Lặc thì thấy toán giáp sĩ kia chỉ là một phần thế lực trong bóng tối của chàng thôi. Có phải chàng còn giấu thêm nhiều nhân mã hơn ở nơi khác đúng không?”
Bùi Thứ Chi nhìn chằm chằm thiếu nữ không chớp mắt, hỏi ra lần thứ ba: “Nàng muốn cái gì.”
Lư Hội áp tay lên ngực chàng, giọng điệu dồn dập: “Bệ hạ nói đúng, nếu như ta có quyền thế ngập trời, ta sẽ lật tung từng tấc đất trong vòng trăm dặm quanh Trang Lư lên, mặc kệ có hao người tốn của, huy động đại quân đi chăng nữa! Thế nhưng ta không có quyền thế lớn như vậy, huống hồ quan binh vô dụng, chỉ biết quấy nhiễu dân lành.”
“Ta muốn toán nhân mã tâm phúc chàng đang giấu trong bóng tối kia! Ta đã thấy họ hành sự rồi, tinh anh can trường, nhanh nhẹn nhạy bén, lại thêm cả Thiết Lặc giỏi ẩn mình do thám nữa… Chỉ cần men theo ba bốn phương hướng kia, mỗi ngả xuất động khoảng trăm người, nhất định có thể tìm lại được người nhà của ta!”
“Chàng giúp ta đi!” Cô hết sức khẩn cầu, ánh mắt khẩn thiết, “Chàng giúp ta cứu người nhà về đi!”
“… Được.” Bùi Thứ Chi nhắm nghiền mắt lại, “Nhưng phải đợi thêm vài ngày, đợi ta lo liệu xong xuôi công việc đã.”
Lư Hội phẫn nộ: “Vì sao phải đợi? Chuyện gì mà hệ trọng đến mức ấy, đợi tìm được người nhà của ta về rồi lo liệu không được sao!”
Sắc mặt Bùi Thứ Chi trắng bệch bất thường, tựa như bị rút cạn máu trong khoảnh khắc. Dưới ánh mắt sốt ruột của thiếu nữ, chàng chầm chậm đứng dậy, bước đến bên bàn rót một bát trà nguội, nhấp một ngụm nhỏ: “… Đúng như nàng đã thấy, ta không chỉ câu kết với Lạc Xuyên Vương phủ cùng vài vị tể tướng, mà còn lén lút tích trữ binh giáp vũ khí, nuôi dưỡng tư binh, đóng đồn binh lực ở vùng phụ cận Thần Đô, nàng tưởng ta muốn làm gì?”
Hai tay Lư Hội khựng lại giữa không trung, cô bàng hoàng ngơ ngác ngồi phịch xuống mép giường.
Bùi Thứ Chi quay người nhìn cô: “Ta nói ta muốn lật đổ Bệ hạ, không đơn thuần là muốn lấy mạng bà ta, ta còn muốn bà ta phải ngã xuống khỏi ngôi báu, bại trận thảm hại, mọi sự sắp đặt đều đổ sông đổ biển.”
Lư Hội nghe mà chưa hiểu rõ lắm: “… Chàng, chàng muốn ngăn cản Thái tử kế vị ư?” Cô dùng sức lắc đầu, “Ta mặc kệ chàng có tính toán gì, ta cũng chẳng buồn biết, ta chỉ cần chàng giúp ta tìm thấy người nhà của ta thôi!”
Bùi Thứ Chi rảo bước đến bên cạnh giường, khom người nhìn xuống cô: “Nàng tưởng nơi này là chỗ nào? Thần Đô hoàng đình, ngay dưới chân thiên tử. Mấy ngày nay trong quá trình nàng tìm kiếm đã chết vài mạng người, Ngự Sử Đài đều nắm rõ mồn một, toàn bộ là nhờ ta ém nhẹm đi giúp nàng.”
“Nếu như ta xuất động toàn bộ nhân mã giúp nàng tìm kiếm, không quá ba ngày, từ Chử Hoàng cho tới Chính Sự Đường, thảy mọi người đều sẽ biết được thế lực ẩn giấu trong bóng tối của ta, cục diện ta khổ công gầy dựng bao năm qua sẽ bị hủy hoại chỉ trong một sớm một chiều.”
Lòng Lư Hội lạnh buốt đi: “Cho nên, chàng không chịu giúp ta?”
Bùi Thứ Chi ngồi xuống mép giường ôm lấy cô: “Không phải, nàng cho ta thêm nửa tháng… không, mười ngày. Mười ngày sau, bất kể cục diện ra sao, ta đều sẽ dốc toàn lực giúp nàng tìm lại người nhà. Có được không?”
Lư Hội đột ngột đẩy phắt chàng ra, đứng lên trên giường hét lớn: “Mười ngày cái gì, đến mười canh giờ ta cũng chẳng đợi nổi nữa! Ta không biết lúc này họ là đang bệnh hay đang bị thương, có phải là không thể cử động nổi để mà cầu cứu hay không, hoặc giả là… đã chết ở một xó xỉnh khuất lấp nào đó không ai hay biết rồi. Bằng không, cớ sao họ lại chẳng đến tìm ta chứ!”
“Ta hỏi lại chàng một lần nữa, chàng rốt cuộc có chịu giúp ta hay không?!” Thiếu nữ cắn chặt đôi môi, đầu lưỡi đã nếm phải vị tanh như rỉ sắt, trong đôi mắt cô ánh lên nỗi hận thù đầy xa lạ, tựa như đang trừng mắt nhìn kẻ thù truyền kiếp.
Bùi Thứ Chi luống cuống ôm chặt lấy cô, hết sức thuyết phục: “Nàng nghe ta nói đã, Thần Đô sắp sửa đại loạn đến nơi rồi, ta tính toán lâu như vậy, đợi chính là mấy ngày nay thôi! Nàng hãy tin ta, chỉ vài ngày này thôi, đợi ta hoàn thành đại sự, ta nhất định sẽ huy động hào kiệt thiên hạ giúp nàng tìm kiếm…”
Lư Hội không muốn nghe tiếp nữa, chẳng rõ là thất vọng hay là chán ghét, cô chẳng muốn nhìn mặt con người này thêm chút nào nữa. Cô đẩy chàng ra, lao thẳng ra ngoài cửa.
Bùi Thứ Chi hét lên: “Nàng muốn đi đâu?!”
Lư Hội lạnh lùng cười mỉa: “Không dám làm chậm trễ đại sự của Bùi Thiếu tướng, ta lập tức dắt các em đi ngay!” Lời còn chưa dứt, cô đã lao nhanh như một cơn gió về phía sương phòng.
Nào ngờ, căn phòng ngày thường vẫn văng vẳng tiếng cười nói bi bô của trẻ thơ nay lại trống hoác không một bóng người.
Lư Hội sững sờ: “… A Kỷ, A Ỷ, ơ, người đâu rồi?”
Bùi Thứ Chi chầm chậm bước theo sau, “Gió mưa sắp đến, biến cố cận kề, vì sự an toàn của các em nàng, ta đã đưa chúng đến một nơi an toàn rồi.”
Lư Hội đứng sững sờ tại chỗ, một lát sau dường như nhận ra điều gì, cô lại nhấc chân lao điên cuồng.
Lần này cô lao thẳng về phía nơi ở của Tiết phu nhân, khoảng sân viện vốn dĩ hoa đoàn cẩm tú, ngập tràn tiếng cười đùa của đám tỳ nữ xinh đẹp, giờ phút này lại trống trải vắng lặng như tờ.
“Phu nhân! Tiết phu nhân!” Cô không kìm được cất tiếng gọi lớn, “Cao nương tử, các người ở đâu rồi!”
Bùi Thứ Chi không nhanh không chậm tiến lên, “Dì Tiết thân thể yếu ớt lắm bệnh, không thể chịu nổi kinh hãi, ta cũng đã đưa bà đi nơi khác rồi. Nàng ngày ngày ở ngoài tìm người, thế nên mới không phát hiện ra.”
Lư Hội không chịu bỏ cuộc, lao mình vào màn đêm tăm tối như mực.
Trong tòa đình viện rộng lớn, bóng cây chao đảo, cành hoa cùng bóng người đan xen lay động chập chờn.
Lư Hội lao đến khu tây trắc viện vốn dĩ ngày thường cô rất ít khi đặt chân tới.
“Thôi lão phu nhân! Lão phu nhân… người đâu rồi…” Cô gọi lớn thất thanh.
Đáp lại cô chỉ có một mảnh không gian vắng lặng như tờ.
Khu phủ đệ tây trắc rộng lớn vẫn thắp đèn đuốc sáng choang như mọi ngày, thậm chí còn có không ít nô tỳ qua lại đi đứng. Duy chỉ có điều, toàn bộ đám nữ quyến của chủ nhà đứng đầu là Thôi lão phu nhân đều đã biến mất tăm.
Đám thị tỳ bưng chậu cầm nến trông thấy Lư Hội gào thét lớn tiếng thì chẳng mảy may can ngăn hay đáp lời, bọn họ chỉ cúi người hành lễ theo đúng phép tắc như thường lệ, rồi lại ai việc nấy mà làm.
Cảnh tượng ấy giống như Lư Hội vừa vô tình xông vào một sân khấu kịch, trên lễ đài ai nấy đều diễn đúng bài bản bộ tịch, chỉ riêng một mình cô là luống cuống chân tay, lạc điệu hoàn toàn. Cảnh tượng trước mắt quỷ dị đến mức khiến cô phải tê dại cả da đầu.
Bùi Thứ Chi chầm chậm bước tới, phía sau lưng chàng là hai hàng thị vệ gươm giáo giáp trụ chỉnh tề.
“Lão phu nhân dạo này lâm bệnh, đã quay về quê tổ của họ Bùi để tĩnh dưỡng rồi.” Chàng ôn tồn giải thích, “Nàng không cần phải tìm nữa đâu. Hiện tại trong Bùi phủ này, chủ nhân chỉ còn lại hai người ta và nàng mà thôi, ngay đến cả Tống tiên sinh cũng có việc phải ra ngoài rồi.”
Chàng bước lên phía trước, định bụng nắm lấy tay cô: “Chúng ta quay về phòng thôi.”
Lư Hội như thể vừa trông thấy yêu ma quỷ quái, “bạch” một tiếng gạt phắt tay chàng ra: “Cút đi! Không được chạm vào ta!”
Cô rơi vào một trận hoảng loạn tột độ như gặp phải ác mộng, trong cơn đất trời chao đảo quay cuồng, cô nhác thấy một vầng trăng sáng vằng vặc treo cao giữa trời đêm, liền định thần phân biệt rõ phương hướng rồi lao như điên về phía cổng lớn.
Đám hộ vệ canh cổng định tiến lên ngăn cản cô lại, cô liền rút phắt chiếc roi dài quấn quanh thắt lưng ra, vung roi quất tới tấp đánh đuổi tất cả bọn họ ra xa.
Cô cắn chặt cuống lưỡi, dốc hết toàn bộ sức bình sinh đẩy chiếc then cài cửa khổng lồ nặng tới mười mấy cân ra, rồi lao thẳng ra ngoài đường lớn.
Tác giả có lời muốn nói:
PS: Cuộc chính biến Thần Long diễn ra vô cùng chớp nhoáng. Trương Giản Chi được tiến cử làm Tể tướng vào tháng 10 năm 704, và đến tháng 2 năm 705 ông đã phát động cuộc chính biến Thần Long. Chỉ trong vòng vỏn vẹn ba tháng ngắn ngủi kể từ khi bước vào cơ quan trung khu (trong truyện này tác giả đổi thành sáu tháng), lão Trương cùng các cộng sự của mình đã hoàn tất một khối lượng công việc khổng lồ từ lôi kéo nhân thủ, hạ quyết tâm, cho đến móc nối liên kết với cấm vệ quân, v.v.
Một mặt, nhóm người lão Trương có hiệu suất hành động cực kỳ cao; mặt khác, Võ Tắc Thiên vào những năm cuối đời quả thực đã không còn kiểm soát nổi đại cục nữa, lòng người dao động dữ dội, ai nấy đều nhăm nhe muốn “nhảy tàu” để tìm kiếm một lối thoát mới.
PSS: Ở chương trước đã đề cập, tầm ảnh hưởng của cuộc chính biến Thần Long được kiểm soát trong một phạm vi nhỏ, mức độ kịch liệt của nó thậm chí còn không chấn động bằng vụ việc vị Thái tử số khổ Lý Trọng Tuấn (con trai của Lý Hiển) giết chết Võ Tam Tư sau này. Do đó, cuộc thanh trừng bè lũ Nhị Trương về sau cũng không quá mức khắc nghiệt, ngoại trừ vài nhân vật chủ chốt bị xử tử hình ra thì đám vây cánh nhiều nhất cũng chỉ bị giáng chức hoặc lưu đày biên ải.
Nếu các bạn có hứng thú thì có thể lên mạng tra cứu danh sách vây cánh của Nhị Trương, mấy dòng đầu tiên cơ hồ có đến hơn một nửa cái tên xuất hiện trong danh mục tác giả của tập Đường Thi Ba Trăm Bài, chẳng hạn như Tống Chi Vấn, Lý Kiệu, Đỗ Thẩm Ngôn… Thơ của rất nhiều người trong số họ tôi đều từng phải học thuộc lòng và chép lại thời đi học.
Cứ nghĩ đến chuyện những thi sĩ xuất chúng như vậy mà lại thuộc bè lũ vây cánh của Nhị Trương, trong lòng tôi lại dấy lên một nỗi niềm khá phức tạp.